
Cuộn hôn phối chữ nghĩa. Trần Dần và tinh thần Avant-garde.
Avant-garde bắt nguồn từ tiếng Pháp, có nghĩa là tiên phong, thể nghiệm. Khái niệm này dùng chỉ những ý tưởng, tác phẩm đi trước thời đại. Đặc trưng cho sự luôn vận động đổi mới không ngừng nghỉ, phá vỡ những chuẩn mực quen thuộc để không ngừng đạt tới giới hạn của sự sáng tạo trong nhiều lĩnh vực.
Trong thế giới thơ ca Việt Nam hiện đại, Trần Dần là một trong những người đi xa nhất trên thi trình ấy. Luôn từ chối, phá vỡ cái cũ là quan niệm của ông trong việc làm nghề. Như ông từng thẳng thắn nói:” Quen dần trong nếp cũ, sẽ không còn khả năng vạch ra cái mới, cái có ích, tức là mất khả năng khám phá, là chết dần với những cái cũ lặp lại. Loài người phải luôn khám phá sáng tạo. Tự do là tất yếu là một phát kiến lớn”.
Lời nhận xét có phần xác đoán, đầy bất mãn cho ta thấy rõ tính tiên phong của ông. Trong sáng tác, không đi theo lối làm thơ quen thuộc vốn đã được khai thác từ lâu. Bắt đầu với ý tưởng ra con chữ rồi thêm cảm xúc đưa lối biểu đạt; ý tưởng là trung tâm, được nâng niu hết mực. Nhưng nếu chữ chỉ là chữ không là ý nữa thì sao? Sẽ ra sao nếu thơ đứng độc lập ngoài kể và tả hay một thứ gì có thể xác định?
"Làm thơ là làm con chữ. Con chữ nó đẻ ra nghĩa, sẽ được nhiều nghĩa. Cái biết rồi là nghĩa, cái chưa biết là chữ.”
Con chữ trở thành trung tâm, thành cội rễ của sáng tạo. Không còn theo phương thức truyền thống: ý tưởng sinh chữ nghĩa. Con chữ được tự do xuất hiện rồi va chạm với nhau tạo ra những vụ nổ. Những vụ nổ của ý tưởng. Thậm chí, không giới hạn ở Tiếng Việt phổ thông, Trần Dần biến tấu âm, chèn tiếng ngoại quốc. Cứ thế ý tưởng trong thơ ông trở nên dường như vô tận. Lặp chữ, ngắt nhịp bất thường, rồi tách ghép chữ nghĩa tưởng chừng không thể.
Dưới đây là một số ví dụ:
“Ai xui hồ chín lá sen?
Thuyền bơi chín sải
Ca đêm chín người chạy
Còi tầm chín ngã gọi
Hẹn nhau chín tối
Xưởng xa chín ống khói
Chín người – tìm thư
… ”
(Chín bức mưa thư)
Không ai có thể biết rõ vì sao lại có sự lặp con số chín. Về số lượng thì nhiều, gần nhiều nhưng mãi mãi không là quá nhiều. Về khoảng cách lại xa nhưng không là quá xa. Về thư từ lại là một khoảng không chơi vơi trong kết nối giữa người với người.
Trong thế giới thơ ca Việt Nam hiện đại, Trần Dần là một trong những người đi xa nhất trên thi trình ấy. Luôn từ chối, phá vỡ cái cũ là quan niệm của ông trong việc làm nghề. Như ông từng thẳng thắn nói:” Quen dần trong nếp cũ, sẽ không còn khả năng vạch ra cái mới, cái có ích, tức là mất khả năng khám phá, là chết dần với những cái cũ lặp lại. Loài người phải luôn khám phá sáng tạo. Tự do là tất yếu là một phát kiến lớn”.
Lời nhận xét có phần xác đoán, đầy bất mãn cho ta thấy rõ tính tiên phong của ông. Trong sáng tác, không đi theo lối làm thơ quen thuộc vốn đã được khai thác từ lâu. Bắt đầu với ý tưởng ra con chữ rồi thêm cảm xúc đưa lối biểu đạt; ý tưởng là trung tâm, được nâng niu hết mực. Nhưng nếu chữ chỉ là chữ không là ý nữa thì sao? Sẽ ra sao nếu thơ đứng độc lập ngoài kể và tả hay một thứ gì có thể xác định?
"Làm thơ là làm con chữ. Con chữ nó đẻ ra nghĩa, sẽ được nhiều nghĩa. Cái biết rồi là nghĩa, cái chưa biết là chữ.”
Con chữ trở thành trung tâm, thành cội rễ của sáng tạo. Không còn theo phương thức truyền thống: ý tưởng sinh chữ nghĩa. Con chữ được tự do xuất hiện rồi va chạm với nhau tạo ra những vụ nổ. Những vụ nổ của ý tưởng. Thậm chí, không giới hạn ở Tiếng Việt phổ thông, Trần Dần biến tấu âm, chèn tiếng ngoại quốc. Cứ thế ý tưởng trong thơ ông trở nên dường như vô tận. Lặp chữ, ngắt nhịp bất thường, rồi tách ghép chữ nghĩa tưởng chừng không thể.
Dưới đây là một số ví dụ:
“Ai xui hồ chín lá sen?
Thuyền bơi chín sải
Ca đêm chín người chạy
Còi tầm chín ngã gọi
Hẹn nhau chín tối
Xưởng xa chín ống khói
Chín người – tìm thư
… ”
(Chín bức mưa thư)
Không ai có thể biết rõ vì sao lại có sự lặp con số chín. Về số lượng thì nhiều, gần nhiều nhưng mãi mãi không là quá nhiều. Về khoảng cách lại xa nhưng không là quá xa. Về thư từ lại là một khoảng không chơi vơi trong kết nối giữa người với người.
Có những lần không gian mờ ảo kỳ diệu được kiến tạo qua lăng kính lập thể, bóc tách một sự vật thành nhiều mảng hình học đa chiều kết hợp cùng thực tại, xóa đi ranh giới giữa thực và ảo:
“Mưa rơi đỗ xanh
Lanh tanh đường nhựa…
Pha lơ mành mành cửa lụa
Cho tôi ngồi chơi
ghế bành mua thuở nọ!...
Kỷ hà lưng lá lúa…
Trường sinh.”
(Mưa kỷ hà)
Âm thanh cũng góp mặt trong thơ ông, được hình thành từ âm chữ đôi lúc bông lơn đùa cợt trong tình huống thơ căng thẳng ở âm ti hay địa ngục thoáng u uất buồn rầu:
“Âm ti khi tòe hè
lâm li bì cắn chỉ
mưa đôi ngồi mí mé.
Xẻ
xè xe.”
(Hậu con OEE)
Đặc thù là tính ngẫu hứng và ý tưởng cứ thay nhau được sinh ra rồi tiếp tục va chạm, nên mỗi bài thơ đều không có mạch kết rõ ràng. Một mặt, điều này tạo ra sự khó gần với độc giả chưa quen, nhưng mặt khác, chính điều này mới đánh với trí tưởng tượng, trạng thái của người đọc như một chuyến phiêu lưu thú vị. Mỗi bài thơ không bao giờ kết thúc sứ mệnh của nó, vì mỗi lần đọc lại có những liên tưởng khác, cảm xúc khác tùy vào tâm trạng.
“Như đã nói,
tôi là một cột thịt lực đực.”
(Thằng thịt)
Nói về Trần Dần mà không nói đến chủ thể “tôi” thì quả đáng trách. Vô số lần cái tôi trong thơ ông phản tư, tự trách, mâu thuẫn với chính mình. Cái tôi linh động không bị bắt vít cố định. Nó có thể vừa yêu vừa ghét, vừa chê trách mình vừa ca tụng. Đó là năng lượng của cuộc đấu tranh nội tâm không ngừng nghỉ của người nghệ sĩ. Kết nối giữa thơ và nhà thơ vì thế trở nên sâu sắc, bởi mỗi dòng thơ là sự trách vấn, là một lần đào sâu tận cùng tâm tưởng. Khát vọng luôn tìm tòi, đào sâu, khai phá giới hạn càng minh chứng cho sự dấn thân, tiên phong của một nghệ sĩ Avant-garde.
“Mưa rơi đỗ xanh
Lanh tanh đường nhựa…
Pha lơ mành mành cửa lụa
Cho tôi ngồi chơi
ghế bành mua thuở nọ!...
Kỷ hà lưng lá lúa…
Trường sinh.”
(Mưa kỷ hà)
Âm thanh cũng góp mặt trong thơ ông, được hình thành từ âm chữ đôi lúc bông lơn đùa cợt trong tình huống thơ căng thẳng ở âm ti hay địa ngục thoáng u uất buồn rầu:
“Âm ti khi tòe hè
lâm li bì cắn chỉ
mưa đôi ngồi mí mé.
Xẻ
xè xe.”
(Hậu con OEE)
Đặc thù là tính ngẫu hứng và ý tưởng cứ thay nhau được sinh ra rồi tiếp tục va chạm, nên mỗi bài thơ đều không có mạch kết rõ ràng. Một mặt, điều này tạo ra sự khó gần với độc giả chưa quen, nhưng mặt khác, chính điều này mới đánh với trí tưởng tượng, trạng thái của người đọc như một chuyến phiêu lưu thú vị. Mỗi bài thơ không bao giờ kết thúc sứ mệnh của nó, vì mỗi lần đọc lại có những liên tưởng khác, cảm xúc khác tùy vào tâm trạng.
“Như đã nói,
tôi là một cột thịt lực đực.”
(Thằng thịt)
Nói về Trần Dần mà không nói đến chủ thể “tôi” thì quả đáng trách. Vô số lần cái tôi trong thơ ông phản tư, tự trách, mâu thuẫn với chính mình. Cái tôi linh động không bị bắt vít cố định. Nó có thể vừa yêu vừa ghét, vừa chê trách mình vừa ca tụng. Đó là năng lượng của cuộc đấu tranh nội tâm không ngừng nghỉ của người nghệ sĩ. Kết nối giữa thơ và nhà thơ vì thế trở nên sâu sắc, bởi mỗi dòng thơ là sự trách vấn, là một lần đào sâu tận cùng tâm tưởng. Khát vọng luôn tìm tòi, đào sâu, khai phá giới hạn càng minh chứng cho sự dấn thân, tiên phong của một nghệ sĩ Avant-garde.
“Ta phải còn giữ một chút hỗn loạn trong chính mình thì mới sinh ra được một vì sao biết nhảy múa” (F.Nietzsche)
Một cá tính mạnh, dâng hiến không chỉ phần đẹp nhất của mình mà cả những phần tối, hỗn loạn trong từng con chữ. Những vì sao biết nhảy múa cứ thế được sinh ra lớn dần và cứ lớn mãi về ý tưởng. Ta có thể không đồng tình với tất cả những quan điểm cá nhân của ông. Nhưng làm sao, ta có thể khước từ những vì sao đang tung tăng trên mặt giấy?
Một cá tính mạnh, dâng hiến không chỉ phần đẹp nhất của mình mà cả những phần tối, hỗn loạn trong từng con chữ. Những vì sao biết nhảy múa cứ thế được sinh ra lớn dần và cứ lớn mãi về ý tưởng. Ta có thể không đồng tình với tất cả những quan điểm cá nhân của ông. Nhưng làm sao, ta có thể khước từ những vì sao đang tung tăng trên mặt giấy?