
Moses trên bình nguyên- chuyện về “những Moses” không thể tìm được đường đi
Tôi có đọc ở đâu đó, đại ý là mỗi nhà văn đều có một vùng đất của riêng mình, có thể là nơi anh ta đã sinh ra, cũng có thể là nơi tự anh ta xây dựng. Nếu nhắc đến Mạc Ngôn, người ta nhớ đến Cao Mật quê hương ông, nhắc đến William Faulkner, người ta nghĩ ngay đến Thánh địa Yoknapatapha- một địa danh hư cấu đầy ám ảnh. Nhân dịp đọc tuyển tập truyện ngắn và vừa của nhà văn Song Tuyết Đào tôi bất giác nhận ra hình ảnh con phố Diễm Phấn thấp thoáng trong mỗi câu chuyện của anh.
Lấy bối cảnh những năm 90 của thế kỷ XX, giai đoạn Trung Quốc vừa trải qua cuộc cách mạng Văn hóa mà dấu ấn của nó còn âm ỉ như ngọn lửa trong tro tàn, nối tiếp giai đoạn thay đổi cơ cấu từ nền kinh tế quốc doanh chuyển sang kinh tế thị trường mở cửa. Thời đại biến động, nhà máy đóng cửa, công nhân thất nghiệp, những phận người lay lắt tồn tại chứ không phải “sống” đúng nghĩa, tạo nên một bầu không khí tiêu điều, ảm đạm, hoang tàn.
Ở đó có những đứa trẻ như Lý Phỉ và Trang Thụ (Moses trên bình nguyên) vốn là đôi bạn thanh mai trúc mã thuở bé nhưng sau bao nhiêu năm xa cách, khi gặp lại, người thành cảnh sát điều tra, người lại liên quan đến vụ án mạng đang bị điều tra. Thời gian và thời đại có thể làm ruộng cao lương năm nào biến mất, làm số phận hai đứa trẻ thay đổi nhưng không thể làm thay đổi tình cảm và tâm nguyện của một con người. Nhưng tiếc thay, dù tâm nguyện đó có mạnh mẽ như thế nào chăng nữa thì cuộc đời bế tắc cũng không có lối ra. Một người có lẽ sẽ tiến về phía trước, người kia mãi mắc kẹt trong bình nguyên của chính mình. Hay như đôi bạn thân Andrei và Lý Mặc (Bạn tôi Andrei). Sau khi trưởng thành, một người được coi là có công việc ổn định, người kia lại chỉ sống trong mộng tưởng và thế giới của riêng mình để rồi phát điên. Một người an phận thủ thường chấp nhận rằng “ chúng ta quá nhỏ bé, đều không xứng coi cả một thời đại làm đối thủ, chúng ta nên đứng cùng một phe với thời đại, nói cách khác, bản thân mình phải làm nên trò trống gì đã.” Một người lại “ từ chối đồng lõa ô hợp với một thời đại như vậy”. Trong cả mười câu chuyện, đều có sự hiện diện của những đứa trẻ từ lúc chúng còn đi học cho đến khi chúng bước chân ra ngoài xã hội. Chúng có thể lớn lên xét về mặt tuổi tác, trưởng thành xét về mặt xã hội, nhưng về mặt tâm hồn, dường như chúng đều đã bị thời đại mài mòn cả rồi. Đến nỗi, có đứa chấp nhận sống bên lề xã hội chứ không thể bước vào xã hội hiện tại. Với dòng thời gian đan xen giữa quá khứ và hiện tại, Song Tuyết Đào cho người đọc thấy sự thay đổi và thích nghi của thế hệ trẻ được sinh ra trong giai đoạn xã hội đầy biến động, song song với đó là sự chấp nhận buông xuôi hay vùng vẫy vượt lên nắm bắt cơ hội của thế hệ cha ông. Dù giọng kể chuyện trung dung, bình thản, chậm rãi nhưng đọc xong mỗi câu chuyện, người đọc dường như bàng hoàng, thờ thẫn hay xót xa cho một hay nhiều phận đời. Có lẽ từ ngữ của anh cứ âm thầm len lỏi từng chút một vào tâm hồn người đọc khiến họ xao động ít nhiều.
Ngày xưa, Moses rẽ nước tách biển mở đường đi dẫn nạn dân đến bờ tự do. Ngày nay, trong các câu chuyện của Song Tuyết Đào, không có biển nhưng “những Moses” của anh vẫn loay hoay trên bình nguyên cuộc đời mà chẳng tìm được đường đi cho chính mình. Họ chính là những con người mà “Ngày tháng “tích tắc” tiến về phía trước. Tôi ở lại.” Họ không phải bị thời đại bỏ rơi, mà đúng hơn là bản thân không theo kịp thời đại. Có lẽ, một người bi quan như tôi khi đọc những câu chuyện của anh, hoàn toàn không thấy được hy vọng tương lai mà vẫn mãi ôm ấp những tàn dư xưa cũ, âm thầm sống cho qua ngày đoạn tháng. Mà anh, khi viết nên những câu chuyện này, có lẽ cũng chỉ là “nhặt lại những ký ức từ lâu đã rơi rụng, quên đi sự thật rằng chính mình từng là một kẻ bỏ cuộc” như chính anh từng tâm sự.
Tôi có đọc ở đâu đó, đại ý là mỗi nhà văn đều có một vùng đất của riêng mình, có thể là nơi anh ta đã sinh ra, cũng có thể là nơi tự anh ta xây dựng. Nếu nhắc đến Mạc Ngôn, người ta nhớ đến Cao Mật quê hương ông, nhắc đến William Faulkner, người ta nghĩ ngay đến Thánh địa Yoknapatapha- một địa danh hư cấu đầy ám ảnh. Nhân dịp đọc tuyển tập truyện ngắn và vừa của nhà văn Song Tuyết Đào tôi bất giác nhận ra hình ảnh con phố Diễm Phấn thấp thoáng trong mỗi câu chuyện của anh.
Lấy bối cảnh những năm 90 của thế kỷ XX, giai đoạn Trung Quốc vừa trải qua cuộc cách mạng Văn hóa mà dấu ấn của nó còn âm ỉ như ngọn lửa trong tro tàn, nối tiếp giai đoạn thay đổi cơ cấu từ nền kinh tế quốc doanh chuyển sang kinh tế thị trường mở cửa. Thời đại biến động, nhà máy đóng cửa, công nhân thất nghiệp, những phận người lay lắt tồn tại chứ không phải “sống” đúng nghĩa, tạo nên một bầu không khí tiêu điều, ảm đạm, hoang tàn.
Ở đó có những đứa trẻ như Lý Phỉ và Trang Thụ (Moses trên bình nguyên) vốn là đôi bạn thanh mai trúc mã thuở bé nhưng sau bao nhiêu năm xa cách, khi gặp lại, người thành cảnh sát điều tra, người lại liên quan đến vụ án mạng đang bị điều tra. Thời gian và thời đại có thể làm ruộng cao lương năm nào biến mất, làm số phận hai đứa trẻ thay đổi nhưng không thể làm thay đổi tình cảm và tâm nguyện của một con người. Nhưng tiếc thay, dù tâm nguyện đó có mạnh mẽ như thế nào chăng nữa thì cuộc đời bế tắc cũng không có lối ra. Một người có lẽ sẽ tiến về phía trước, người kia mãi mắc kẹt trong bình nguyên của chính mình. Hay như đôi bạn thân Andrei và Lý Mặc (Bạn tôi Andrei). Sau khi trưởng thành, một người được coi là có công việc ổn định, người kia lại chỉ sống trong mộng tưởng và thế giới của riêng mình để rồi phát điên. Một người an phận thủ thường chấp nhận rằng “ chúng ta quá nhỏ bé, đều không xứng coi cả một thời đại làm đối thủ, chúng ta nên đứng cùng một phe với thời đại, nói cách khác, bản thân mình phải làm nên trò trống gì đã.” Một người lại “ từ chối đồng lõa ô hợp với một thời đại như vậy”. Trong cả mười câu chuyện, đều có sự hiện diện của những đứa trẻ từ lúc chúng còn đi học cho đến khi chúng bước chân ra ngoài xã hội. Chúng có thể lớn lên xét về mặt tuổi tác, trưởng thành xét về mặt xã hội, nhưng về mặt tâm hồn, dường như chúng đều đã bị thời đại mài mòn cả rồi. Đến nỗi, có đứa chấp nhận sống bên lề xã hội chứ không thể bước vào xã hội hiện tại. Với dòng thời gian đan xen giữa quá khứ và hiện tại, Song Tuyết Đào cho người đọc thấy sự thay đổi và thích nghi của thế hệ trẻ được sinh ra trong giai đoạn xã hội đầy biến động, song song với đó là sự chấp nhận buông xuôi hay vùng vẫy vượt lên nắm bắt cơ hội của thế hệ cha ông. Dù giọng kể chuyện trung dung, bình thản, chậm rãi nhưng đọc xong mỗi câu chuyện, người đọc dường như bàng hoàng, thờ thẫn hay xót xa cho một hay nhiều phận đời. Có lẽ từ ngữ của anh cứ âm thầm len lỏi từng chút một vào tâm hồn người đọc khiến họ xao động ít nhiều.
Ngày xưa, Moses rẽ nước tách biển mở đường đi dẫn nạn dân đến bờ tự do. Ngày nay, trong các câu chuyện của Song Tuyết Đào, không có biển nhưng “những Moses” của anh vẫn loay hoay trên bình nguyên cuộc đời mà chẳng tìm được đường đi cho chính mình. Họ chính là những con người mà “Ngày tháng “tích tắc” tiến về phía trước. Tôi ở lại.” Họ không phải bị thời đại bỏ rơi, mà đúng hơn là bản thân không theo kịp thời đại. Có lẽ, một người bi quan như tôi khi đọc những câu chuyện của anh, hoàn toàn không thấy được hy vọng tương lai mà vẫn mãi ôm ấp những tàn dư xưa cũ, âm thầm sống cho qua ngày đoạn tháng. Mà anh, khi viết nên những câu chuyện này, có lẽ cũng chỉ là “nhặt lại những ký ức từ lâu đã rơi rụng, quên đi sự thật rằng chính mình từng là một kẻ bỏ cuộc” như chính anh từng tâm sự.