
Cuốn sách bắt tôi nhìn lại kẻ kiêu ngạo tôi từng là
Tôi đọc xong cuốn này lúc gần nửa đêm, rồi im lặng rất lâu. "Để tuổi trẻ là hành trình đẹp nhất" là cuốn sách Phan Thế Anh viết về bảy năm anh đánh đổi một cuộc sống ổn định để sang Đài Loan làm nghiên cứu sinh tiến sĩ; điều làm nó khác đa số sách "chữa lành" là anh không tô hồng gì, kể cả phần xấu xí trong chính mình. Mà bảy năm của tôi ở Đài Loan, ngỡ đã xếp gọn vào một ngăn kéo nào đó, chỉ vài trang sách của anh đã kéo tất cả trở lại.
Cái quyết định bỏ lại sự ổn định để làm lại từ đầu ấy nghe thật dũng cảm. Nhưng tôi hiểu rõ cái giá thật của việc sống một mình nơi xứ người: không phải những tấm ảnh check-in, mà là những tối mùa đông mưa lâm râm, tôi ôm phần khoai lang viên chiên nóng mua vội ở chợ đêm Cảnh Mỹ, đi bộ về căn phòng trọ chật, và một câu hỏi cứ lặp đi lặp lại trong đầu: “Mình có đủ sức đi tiếp không?” Tác giả gọi đúng tên thứ tôi từng giấu: "Đôi khi, sự cô đơn không đến từ việc không có ai bên cạnh, mà là cảm giác lạc lõng giữa một đám đông." Tôi có bạn bè, có đồng nghiệp tử tế, nhưng trong những bữa cơm đông người vẫn luôn cười chậm hơn một nhịp, đến khi hiểu ra câu bông đùa thì chuyện đã trôi sang hướng khác.
Điều khiến tôi nể cuốn sách không nằm ở những trang du học lấp lánh, mà ở chỗ nó dám viết về phần tối: áp lực do chính mình tạo ra. "Phải giỏi hơn nữa", "phải chứng minh mình xứng đáng" , tôi đã sống y như thế suốt nhiều năm. Rồi một ngày, sau một kỳ thi trượt, tác giả quyết định thôi ép bản thân lúc nào cũng phải mạnh mẽ. Tôi ước mình đọc được điều đó sớm hơn mười năm.
Nhưng đoạn khiến tôi phải đặt sách xuống là khi tác giả thú nhận chính định kiến của mình. Anh từng coi thường những đồng hương người Việt làm lao động chân tay, tin vào đủ thứ tiếng xấu về họ, cho đến khi nhận ra họ tự học ngoại ngữ nhanh đến kinh ngạc, gửi tiền về nuôi cả gia đình, trong khi anh, một người đầy bằng cấp, vẫn ngửa tay xin tiền bố mẹ. Đọc tới đó, gáy tôi nóng ran. Vì tôi cũng vậy: từng vô thức bước nhanh hơn khi đi ngang một nhóm đồng hương nói cười ồn ào ở ga tàu, sợ bị đánh đồng hơn là thấy gần gũi. Tôi từng tưởng tấm bằng kéo mình lại gần phẩm giá. Cuốn sách lặng lẽ chỉ ngược lại, một cú nhìn thẳng mà ít người dám tự dành cho mình.
Mà điều chữa lành tôi nhiều nhất ở Đài Loan lại chẳng đến từ trường lớp hay tấm bằng nào, mà từ chính một người đồng hương. Chị là một cô dâu Việt lấy chồng Đài, mở một
quán cơm nhỏ gần trường. Chị lo cho tôi từng bữa ăn như em ruột, có hôm chở mấy chị em đi hái dâu tận Miêu Lật, thỉnh thoảng lại nhậu lai rai cho vơi đi nỗi nhớ nhà. Chị chẳng có tấm bằng nào để khoe, chỉ có một quán cơm nhỏ và thói quen để dành cho tôi phần cơm nóng nhất. Mãi đến khi đọc những trang Phan Thế Anh tự xấu hổ vì định kiến với đồng hương, tôi mới hiểu: người tôi có thể đã từng vô tâm lướt qua lại chính là người dạy tôi cách tử tế với một con người, và thứ ý nghĩa tôi mải đi tìm vẫn luôn ở đó, trong một bát cơm nóng ai đó lặng lẽ chừa phần.
Phần còn lại của sách dịu hơn, nhưng tuyệt nhiên không phải một tấm bưu thiếp Đài Loan. Anh kể chuyện năn nỉ cả tuần mới rủ được bạn bè lên đỉnh Hợp Hoan đón bình minh trong cái lạnh tháng hai, và tôi giật mình thấy mình của ngày ấy: lúc nào cũng đi tìm một đỉnh núi để leo, như thể chỉ cần đứng cao hơn là có thể thoát khỏi nỗi bất an về chính mình. Phan Thế Anh lại bắt tôi nhìn xuống đôi tay pha trà: chỉ hấp tấp một chút thôi, lá trà sẽ cháy. Hóa ra tôi cũng đã đun tuổi trẻ của mình trên một ngọn lửa quá lớn, để rồi chỉ
nhận về vị đắng của sự cô độc. Còn những mùa hoa anh đào thì lặng lẽ nhắc nhở tôi: rực rỡ đến mấy rồi cũng sẽ tàn, nên thứ đáng giữ chưa chắc là cái đỉnh ta leo tới, mà là người đồng hành cùng ta.
Một cụ già ngoài bảy mươi mà tác giả gặp trên đường lên núi A Lý đã nói một câu rằng: "Khi bạn bước từng bước đi lên đỉnh núi, bạn phải tập trung vào từng bước đi, không để tâm trí bị lạc hướng." Hóa ra cả việc sống lẫn việc đi xa đều cần đúng một thứ: bớt ngước nhìn cái đỉnh, để còn đi hết con dốc ngay trước mặt.
Gấp sách lại, tôi không còn chắc tuổi trẻ có nhất thiết phải là hành trình đẹp nhất. Tôi chỉ mong nó là hành trình thật nhất và không có gì hối tiếc, nơi mình dám nhìn thẳng vào cả phần kiêu ngạo từng muốn giấu. Phan Thế Anh đã gọi tên bảy năm của anh. Còn tôi, nhờ cuốn sách như một tấm gương, cuối cùng cũng gọi được tên bảy năm của mình ở Đài Loan.
Bài dự thi của bạn Trần Văn Long.