Dùng phân tâm học để đọc “Tàn ngày để lại”, ta ngỡ ngàng nhận ra văn chương luôn có một khoảng trắng, theo mọi nghĩa

Ngày đăng: 23/09/2026
Feature image

Đọc “Tàn ngày để lại” của nhà văn Kazuo Ishiguro, người đọc nhiều khi thấy câu chuyện được kể khá dài dòng. Những đường vòng trong hồi ức, suy nghĩ và hội thoại cứ thế cuộn vào nhau như thể đang tránh né một điều gì đó. Tác giả đã để cho nhân vật chính Stevens bộc lộ rất nhiều. Nhưng nếu hiểu theo những gì Stevens đang nghĩ, người ta sẽ dễ đi lạc vào cái bao biện của chính ông. Vì thế, thay vì chú trọng vào những gì ông nói, ta hãy thử đảo ngược lại rằng: Còn điều gì Stevens chưa kể?

Vốn dĩ những điều quản gia Stevens không muốn đề cập, thậm chí bị bác bỏ và bao biện bằng giá trị của một người quản gia chuyên nghiệp, tận tụy đã nằm sâu trong vô thức. Ông kìm nén nỗi hoài nghi về giá trị của bản thân đến mức những câu văn chống chế tự bật ra một cách tự nhiên. Về điểm này, ta hoàn toàn có thể phối hợp với phân tâm học để bóc tách nội tâm Stevens.

Năm 2023, nữ tiến sĩ Rosemary Rizq đã có một nghiên cứu liên ngành về những điều chưa nói của nhân vật Stevens trong “Tàn ngày để lại” thông qua góc nhìn phân tâm học. Rizq nhận thấy điều người đọc dần biết về Stevens đến ít hơn từ những lời ông trực tiếp thừa nhận và nhiều hơn từ những gì ông bỏ qua, né tránh hoặc chỉ có thể diễn đạt một cách gián tiếp. Bà đọc Stevens như một người kể chuyện không đáng tin, trong đó mong muốn duy trì “phẩm giá” và “sự vĩ đại” khiến ông xóa mờ những dấu vết cảm xúc khỏi câu chuyện về chính đời mình.

Ishiguro đã xây dựng một cấu trúc tinh vi khi để Stevens tự tạo ra thứ “ngôn ngữ phòng vệ”; rồi chính những chỗ ông không thể giải thích lại trở thành nơi người đọc nhìn thấy ông rõ nhất.

Ông có thể dành hàng trang để định nghĩa thế nào là một quản gia vĩ đại, nhưng lại đặc biệt lúng túng trước những câu hỏi tưởng như đơn giản về tình cảm của mình dành cho cô Kenton. Ông có thể kể rất chi tiết về những nghi thức phục vụ tại dinh thự Darlington Hall, nhưng những xúc cảm riêng tư của chính mình lại thường xuất hiện qua một câu nói vòng, một ký ức bị ngắt quãng hoặc một sự việc mà ông lập tức chuyển hướng sang một chủ đề khác.

Đây là lúc phân tâm học đem đến cho ta một cách đọc đặc biệt. Cha đẻ của phân tâm học, Sigmund Freud từng quan tâm đến những mảnh vụn tưởng như không đáng kể của đời sống tinh thần, tức những dấu vết còn sót lại từ một ngày sống và có thể trở lại dưới những hình thức khác. Sử dụng ý niệm này để đọc “Tàn ngày để lại”, chắc chắn nó sẽ khiến chúng ta bất ngờ.

Hãy nhìn vào cách Stevens kể về cha mình. Ông luôn đặt người cha trong hình ảnh của một “quản gia vĩ đại”, một hiện thân của phẩm giá. Nhưng càng nói về cha, Stevens càng cho thấy ông đã “hấp thụ” hình mẫu ấy sâu sắc đến mức biến nó thành mục tiêu phấn đấu của cả đời mình. Lạnh lùng thay, khi người cha già yếu và qua đời, Stevens vẫn cố duy trì công việc, vẫn tiếp tục phục vụ khách khứa, như thể thừa nhận nỗi đau đồng nghĩa với việc thiếu chuyên nghiệp và trách nhiệm.

Cũng theo cơ chế ấy, mối quan hệ với cô Kenton được kể bằng một thứ ngôn ngữ luôn đứng cách cảm xúc một khoảng. Stevens hiếm khi trực tiếp nói rằng mình yêu cô. Thay vào đó, ông kể về những cuộc đối thoại, những lần cô Kenton bước vào phòng, những lá thư, hiểu lầm và những khoảnh khắc rất nhỏ giữa hai người. Người đọc chúng ta phải tự ghép các mảnh ấy lại.

Khi cuối cùng Stevens gặp lại cô Kenton sau nhiều thập niên, điều ông nhận ra cũng đến từ một khoảng dừng, một cuộc trò chuyện ngắn và câu hỏi muộn màng về việc cô có hạnh phúc hay không.

Đi qua tất cả những điều được kể, ta mới ngờ ngợ cho rằng đó là những lời không đáng tin. Stevens không nói dối mà kể theo cách ông có thể chịu đựng được. Ông làm vậy cốt cũng để duy trì một hình ảnh có thể chấp nhận về bản thân. Khoảnh khắc hai người phụ nữ Do Thái im lặng khi bị chính Stevens đuổi đi. Ông chẳng thể nói gì thêm khi cô Kenton lựa chọn ở lại cuộc hôn nhân khốn khó. Cái ngập ngừng khi nói về cha,... Sự im lặng và vòng vo trong vô thức chính là giới hạn của người quản gia đầy cố chấp.

Cái khoảng trắng chưa nói ấy có thể hiểu là cơ chế dồn nén. Sự đau buồn, hoài nghi, tiếc nuối và ham muốn nảy sinh, nhưng nó bị Stevens ém chặt, để rồi quay lại dưới hình dáng của những lời bao biện: tất cả đều liên quan đến công việc và ông chỉ đang thực thi mệnh lệnh. Một điểm nghẽn đạo đức vừa khiến độc giả căm ghét lẫn xót xa cho số phận quản gia.

Bởi vậy, “sự im lặng” trong "Tàn ngày để lại" chính là một loại văn bản thứ hai. Nếu lời kể của Stevens là lớp văn bản mà ông chủ động kiểm soát, thì những khoảng ngừng, những điều bị bỏ qua, những chuyển hướng đột ngột và những cảm xúc chỉ xuất hiện dưới dạng dấu vết lại tạo thành một văn bản khác được viết tiếp bởi độc giả.

Có lẽ đây cũng là lý do "Tàn ngày để lại" trở nên ám ảnh khi người đọc vừa phải lần dấu theo câu chuyện của Stevens, vừa phải đoán xem liệu trong những “khoảng trắng” chưa nói, ông còn đang chưa dám thú nhận điều gì…

Sách gợi ý

Sách gợi ý