CẢM THỨC HIỆN SINH TRONG TIỂU THUYẾT SÓNG MÒN CỦA NAM CAO

Ngày đăng: 26/08/2026
Feature image

CẢM THỨC HIỆN SINH TRONG TIỂU THUYẾT Sống mòn CỦA Nam Cao

Bản thảo tiểu thuyết Sống mòn (1944) của Nam Cao ban đầu vốn được tác giả đặt tên là “Chết mòn”. Đã có nhiều nghiên cứu phân tích hàm ý có thể được gợi ra từ hai nhan đề này, trong đó phổ biến nhất có lẽ là nhận định cho rằng cái tên Sống mòn làm nổi bật hơn ý nghĩa bi kịch của tác phẩm. Đó là bi kịch của những con người “chết ngay trong lúc sống” - một tình trạng mà Thứ, nhân vật trung tâm của tiểu thuyết, tự nghiệm về bản thân cũng như những kiếp sống xung quanh.

Sống mòn, thực vậy, là nhan đề đích đáng hơn cả dành cho tiểu thuyết này. Bởi câu hỏi “thế nào mới là sống?” khiến Thứ - nhân vật được xem như bóng dáng của Nam Cao - không thôi day dứt. Thậm chí, nó là nội dung quan trọng nhất của cuốn tiểu thuyết mang hơi hướng tự thuật này, một cuốn tiểu thuyết dường như không có gì để kể lại ngoài những đấu tranh nội tâm của nhân vật. Ở chừng mực nhất định, có thể xem Sống mòn như một tiểu thuyết mang cảm thức hiện sinh.

Nhân vật của Nam Cao tự ý thức rất rõ: sống - theo nghĩa trọn vẹn nhất của nó - cần phải trở nên như thế nào. “Thứ vẫn không tài nào chịu được rằng sống là chỉ làm thế nào cho mình và vợ con có cơm ăn, áo mặc thôi. Sống là để làm một cái gì đẹp hơn nhiều, cao quý hơn nhiều. Mỗi người sống, phải làm thế nào cho phát triển đến tận độ những khả năng của loài người chứa đựng ở trong mình. Phải gom sức lực của mình vào công cuộc tiến bộ chung. Mỗi người chết đi, phải để lại một chút gì cho nhân loại.” Sống, với Thứ, phải gắn với ý nghĩa, phải tạo nên ý nghĩa, phải vượt lên trạng thái tồn tại bản năng đơn thuần và vượt lên cái giới hạn của một đời sống cá nhân.

Nhưng để sống mang ý nghĩa thì con người buộc phải sống với những ý nghĩ. Sống mòn, theo đó, là cuốn tiểu thuyết về sự nghĩ. Một mặt, sự nghĩ khiến Thứ kiêu hãnh về giá trị của bản thân, khiến Thứ có những khoảnh khắc tự cao (dù ngấm ngầm) khi đặt mình trong sự đối sánh với kẻ khác. Nhân vật của Nam Cao thường băn khoăn vì sao con người ta vẫn cứ có thể chịu đựng để sống một đời sống không đúng nghĩa, nói sống, rốt cục, ta khổ sống hơn bởi trở nên nhạy cảm hơn với trạng thái nhếch nhác của đời sống không chỉ do đói nghèo mà còn do sự thiếu thốn hay sự hời hợt về tinh thần. Sẽ có phần cường điệu nếu so sánh thế giới của Sống mòn với thế giới gây buồn nôn mà nhân vật Roquentin của Jean-Paul Sartre nếm trải nhưng không thể không nhận thấy một số điểm tương ứng giữa chúng. Dẫu vậy, liệu người ta có thể sống mà không cần nghĩ, đánh đổi sự nghĩ để lấy sự sung sướng? Như câu hỏi mà Thứ đã cằn vặn người bạn của anh: “Anh có bằng lòng làm một cục đá để sung sướng hay không?”

Ngòi bút của Nam Cao trong tiểu thuyết này vẫn phát huy sự sắc sảo khi phân tích các cơ chế của hoàn cảnh và lý giải sự tác động của chúng đối với cách sống, cách nghĩ của con người. Hoàn cảnh trong văn Nam Cao không phô diễn sức mạnh qua những biến cố đặc biệt, những kịch tính gay gắt. Hoàn cảnh bộc lộ sự tàn nhẫn của nó trong đời sống thường nhật, nơi những vấn đề nhỏ nhặt nhất, bình thường nhất cũng buộc con người phải toan tính, cạnh tranh, giẫm đạp lên nhau: “Chừng nào người còn phải giật của người từng miếng ăn thì mới có ăn, chừng nào một số người còn phải giẫm lên đầu người kia để mò lên thì loài người còn phải xấu xa, bỉ ổi, tàn nhẫn và ích kỷ. Chất độc ở ngay trong sự ghen ghét, đắng nguyên rữa; ấy là cuộc sống làm thân, nó đã bắt buộc người ta ích kỷ, nó đã tạo ra những con người tàn nhẫn và tham lam.” Nhưng sẽ là đơn giản hóa tính chất vấn của cuốn tiểu thuyết này nếu chỉ thấy ở đó sự phê phán đối với hoàn cảnh. Câu hỏi mà Nam Cao không để cho nhân vật của mình thoái thác được gai góc hơn: Tại sao ta ý thức rõ được sự tầm thường và bất nhẫn của hoàn cảnh nhưng vẫn không thể kháng cự nổi nó? Tại sao ta vẫn dung chỉnh cơ chế của nó như một cách biện hộ cho sự tầm thường và bất nhẫn của chính ta? Ta ý thức được chữ “nghĩ” thôi không thể thay đổi được hoàn cảnh mà phải hành động nhưng nhưng như thế nào, phải bắt đầu từ đâu?

Khía cạnh phản tư này ở nhân vật Thứ - và phần nào cũng của chính Nam Cao - chính là yếu tố khiến Sống mòn không rơi vào tính chất luận đề xã hội. Nó là dạng tiểu thuyết tự vấn với giọng điệu chủ âm là sự nghiêm khắc và tự mỉa mai. Đối tượng phê phán mà Sống mòn xoáy sâu vào hơn cả là bản thân con người, là tâm lý nệ thói quen, ngại thay đổi, do đó, trở nên bạc nhược, loay hoay trong những bế tắc thường nhật. Nhân vật của Nam Cao vừa có cảm giác cuộc sống của mình không ở đây, anh tin rằng có một thế giới khác mà mình cần phải thuộc về nó nhưng lại vừa chần chừ, lưỡng lự, nuối sự chờ đợi về một cái gì đó rất đổi mơ hồ để rồi cuối cùng nhận ra là trạng thái ấy đều không phải là trạng thái sống đích thực: “Thứ hốt hoảng nhận ra rằng đời y rất có thể cứ như thế này mãi mãi, suốt đời. Y hoảng hốt như là y mới nhận ra cái điều thật vọng ấy lần đầu. Thì ra xưa nay y vẫn ngấm ngầm hy vọng vào một cái gì mãi đó ư? Y vẫn cho rằng cuộc đời hiện tại của y chỉ là một cuộc sống tạm bợ mà thôi. Y vẫn chờ đợi một cái gì, một cuộc đổi thay. Căn cứ vào đâu? Thứ mở to đôi mắt, sợ hãi, nhận ra rằng bao nhiêu năm nay đã sống như ngủ mơ vậy.” Nỗi sợ về tình trạng sống mà như chưa sống này chính là một biểu hiện của khủng hoảng hiện sinh - một motif tâm lý được phân tích sâu sắc trong nhiều tác phẩm quan trọng của Nam Cao trước đó như “Chí Phèo”, “Đời thừa”.

Khủng hoảng hiện sinh của nhân vật trong Sống mòn được hình tượng hóa qua cấu trúc đối lập của hai hệ thống không gian nghệ thuật: một bên là không gian của thực tại gắn liền với cuộc đời thường nhật của Thứ, loanh quanh giữa Hà Nội và quê nhà; một bên là những nơi chốn hoặc gắn liền với quá khứ của Thứ (Sài Gòn), với quãng đời mà Thứ đã từng liều lĩnh sống với nhiều trải nghiệm, hoặc gắn liền với những vọng tưởng của Thứ (nước Pháp), những dự phóng mà Thứ muốn hiện thực hóa để rũ bỏ cái thực tại mình đang mắc kẹt trong đó. Trạng thái đời sống biến thành thói quen làm nhân vật mất đi cái năng lượng liều lĩnh đầy tính thần hiện sinh vốn có, thay vào đó là một kiếp sống mòn mỏi, mốc meo và hoen gỉ dần đi từng ngày.

Nhưng có thật Sống mòn chỉ là cuốn tiểu thuyết miêu tả và phân tích tình trạng đi đến sự chết của con người trong xã hội? Có thật tác phẩm của Nam Cao xác nhận “sự toàn thắng của cái chết” như nhận định của nhà nghiên cứu Phong Lê?¹ Bản thảo của cuốn tiểu thuyết này hoàn thành vào tháng 10 năm 1944. Đọc Sống mòn, không khó để nhận ra những biến động lớn của thời đại đã dội vào tâm thức của Nam Cao như thế nào. Không trực tiếp mô tả những sự kiện chính trị đang diễn ra trên thế giới và trong lòng xã hội thuộc địa nhưng Sống mòn vẫn cứ là một cuốn tiểu thuyết giàu tính thời sự. Nhân vật của cuốn tiểu thuyết ít nhiều ý thức về khả năng đổi tượng của cuốn, cũng như chính bản thân ông, dù cảm được một “tia sáng mong manh rọi lóe lên trong bóng tối” vẫn đang bị dập và bị dập. Sống mòn, trên thực tế, đã kết thúc bằng nỗi phấp phỏng của hy vọng về một khả năng đổi thay, một cơ hội để con người có thể “lột máu” bản thân. Cho dù ngay khi hy vọng vừa nhen lên, nhân vật của Nam Cao vẫn hoài nghi khắc với bản thân như chính nhà văn, lại thấy ngượng khi tự hỏi mình: “Y đã làm gì chưa?”. Câu hỏi ấy phần ánh nỗi băn khoăn về khả năng chuyển hóa sự nghĩ thành hành động - một trong những chủ đề trở đi trở lại trong những sáng tác về đề tài trí thức của Nam Cao. Hành động, trong trường hợp này, là sự hiện thực hóa ý thức về trách nhiệm - một từ khóa quan trọng khác của tâm thức hiện sinh.

Vị trí văn học sử của Nam Cao đến giờ có lẽ đã không còn là vấn đề gây bàn cãi. Các nhà nghiên cứu thừa nhận ông như một đại diện xuất sắc của chủ nghĩa hiện thực, một nhà nhân đạo lớn, một cây bút có đóng góp lớn trong nghệ thuật tự sự. Nhưng cũng có một thực tế rằng dường như chính những khẳng định ấy khiến ông đang ít được đọc lại, hiểu theo nghĩa, ông trở thành đối tượng của những cách đọc mới. Đọc Nam Cao nói chung, Sống mòn nói riêng qua lăng kính của chủ nghĩa hiện sinh, thiết nghĩ, là một đề xuất diễn giải cần được thúc đẩy mà bài giới thiệu này chỉ là gợi mở ban đầu. Nhìn rộng hơn, việc đọc Nam Cao từ những cách đọc mới chính là hành động để Nam Cao luôn có khả năng trở thành một hiện tượng thời sự của tiếp nhận văn học. Và đó mới là đời sống đúng nghĩa của một điển phạm.

TRẦN NGỌC HIẾU

Sách gợi ý

Bình luận bài viết

Sách gợi ý