
Con người thuộc về sinh học hay xã hội học? Một câu hỏi về giáo dục nên tìm trong sư phạm, tâm lý học hay ngôn ngữ học? Và khi nghiên cứu môi trường, kinh tế hay pháp luật, ta đã bước ra khỏi phạm vi khoa học nhân văn chưa?
Cách chia mục lục của Thuật ngữ Pháp–Việt về khoa học nhân văn – Con người và xã hội phần nào cho thấy vì sao những ranh giới ấy khó phân định.
Cuốn sách được chia thành 16 lĩnh vực: nhân học và dân tộc học; sinh học người; y học; tâm lý học; xã hội học; chính trị; pháp luật và tư pháp; kinh tế học; sinh thái học; giáo dục và đào tạo; sư phạm; truyền thông; ngôn ngữ học; logic và hùng biện; triết học và đạo đức; tôn giáo.
Danh sách này khá rộng, nhưng sự rộng ấy phản ánh đúng tính chất của đối tượng nghiên cứu.
Con người đồng thời là một cơ thể sinh học, một chủ thể tâm lý, thành viên của cộng đồng, công dân trong những thiết chế chính trị và pháp luật, người tham gia hoạt động kinh tế, người sử dụng ngôn ngữ, người tiếp nhận giáo dục và cá nhân mang theo những quan niệm về đạo đức, văn hóa hay niềm tin.
Bởi vậy, một vấn đề hiếm khi nằm hoàn toàn trong phạm vi của một chuyên ngành.
Ngay trong những trang đầu, mục Enquête de terrain – Điều tra điền dã thuộc phần nhân học đã dẫn người đọc sang logic, xã hội học, điều tra dư luận và thăm dò dư luận. Endogamie – Nội hôn lại kết nối với ngoại hôn, quan hệ thân tộc và những vấn đề thuộc tâm lý học. Mục Culture – Văn hóa tiếp tục mở sang văn minh, thẩm thấu văn hóa, tiếp biến văn hóa, chuyển hoán văn hóa, hội nhập văn hóa và giải văn hóa.
Đây là một đặc điểm đáng giá của cuốn sách: các chương phân chia lĩnh vực để người đọc dễ tìm, nhưng các mục từ liên tục phá vỡ những đường biên ấy bằng hệ thống chỉ dẫn chéo.
Một sinh viên nhân học vì thế có thể tìm thấy những thuật ngữ xã hội học cần thiết cho bài nghiên cứu của mình. Người học truyền thông có thể phải đi sang tâm lý, ngôn ngữ và chính trị. Một đề tài giáo dục rất có thể đòi hỏi khái niệm từ sư phạm, xã hội học và triết học.
Cuốn sách vì vậy có thể được dùng như một bản đồ nhập môn của khoa học xã hội và nhân văn, chứ không chỉ như một bảng đối chiếu Pháp–Việt.
Người đọc có thể bắt đầu bằng ngành mình đang học, rồi lần theo các khái niệm sang những vùng lân cận. Cách đọc này đặc biệt hữu ích với sinh viên những năm đầu, khi hàng loạt thuật ngữ mới thường xuất hiện cùng lúc nhưng mối liên hệ giữa chúng chưa thật rõ. Với người làm nghiên cứu, sách lại đóng vai trò như một công cụ tra nhanh để kiểm tra khái niệm hoặc mở rộng phạm vi tham chiếu.
Ngay cả một độc giả không sử dụng tiếng Pháp vẫn có thể khai thác phần giải thích tiếng Việt, từ nguyên, ví dụ và hệ thống liên kết giữa các thuật ngữ. Yếu tố song ngữ là một lợi thế quan trọng, nhưng giá trị của cuốn sách không bị giới hạn bởi yếu tố đó.
Nếu bạn đang theo học hoặc nghiên cứu nhân học, xã hội học, tâm lý học, chính trị học, luật, kinh tế, giáo dục, truyền thông, ngôn ngữ, triết học hay các ngành gần kề, đây là một cuốn sách tham khảo có thể sử dụng trong nhiều năm. Không nhất thiết phải đọc hết 16 phần. Chỉ cần bắt đầu ở lĩnh vực quen thuộc nhất, rồi để các chỉ dẫn trong sách đưa bạn sang những khái niệm mà đề tài của mình thực sự cần.
Một cuốn từ điển thông thường giúp ta tìm thấy một từ.
Thuật ngữ Pháp–Việt về khoa học nhân văn – Con người và xã hội hữu ích hơn khi được dùng như một bản đồ: 16 vùng tri thức, nhiều đường nối giữa chúng, cùng xoay quanh hai đối tượng khó hiểu hết nhất, con người và xã hội.