Milan Kundera

Nửa cuộc đời đầu tiên Kundera sống ở Tiệp Khắc (nay là Cộng hòa Czech), nửa còn lại ông sống cùng vợ ở Pháp. Hiện nay ông được coi là “nhà văn Pháp gốc Czech”. Ông đã xem lại hết sức kỹ càng bản dịch tiếng Pháp của bảy tiểu thuyết đầu tiên, ngày nay ông coi chúng là bản chuẩn và yêu cầu các dịch giả sử dụng chúng. Đó là các tiểu thuyết La Plaisanterie (Chuyện đùa, 1965), Risibles amours (Những mối tình nực cười, 1968), La vie est ailleurs(Cuộc sống không ở đây, 1969), La valse aux adieux (Điệu valse giã từ, 1970), Le livre du rire et de l’oubli (Sách cười và lãng quên, 1979), L’insoutenable légèreté de l’être (Sự nhẹ không thể chịu đựng của tồn tại, 1982),L’Immortalité (Sự bất tử, 1997).
Các tiểu thuyết tiếp theo ông viết trực tiếp từ tiếng Pháp: La Lenteur (Chậm rãi, 1995), L’Identité (Bản nguyên, 1997), L’Ignorance (Ngu dốt, 1999). Rút lui khỏi cuộc sống công cộng, ông tự coi mình là “một tiểu thuyết gia và chỉ là một tiểu thuyết gia”. 

Bốn tập tiểu luận sau đây cũng đóng góp cho nghệ thuật tiểu thuyết và thi pháp tiểu thuyết riêng của ông: L’art du roman (Nghệ thuật tiểu thuyết, 1986), Les testaments trahis (Các di chúc bị phản bội, 1993), Le rideau (Tấm riđô, 2005), Une rencontre (Một cuộc gặp, 2009). 

Ngay cả vở kịch duy nhất của ông cũng gắn liền với nghệ thuật tiểu thuyết : Jacques et son maître hommage à Denis Diderot en trois actes (Jacques và ông chủ kịch ba màn dành để vinh danh Denis Diderot, 1971), một biến tấu kịch nghệ của cuốn tiểu thuyết mà ông yêu quý: Jacques le fataliste (Jacques anh chàng theo thuyết định mệnh). 

Tất cả sách của Kundera đều đã được dịch sang mọi thứ tiếng châu Âu và nhiều thứ tiếng châu Á.
 
 

Chia sẻ: