Sở dĩ Con thuyền - một tác phẩm đầu tay - có khả năng khuấy đảo văn đàn với
lời tán thưởng vang dội từ khắp mọi châu lục, có thể đưa một luật sư trẻ gốc Việt
vô danh ở Úc trở thành một trong những nhà văn sáng giá được ngưỡng mộ nhất tại
Mỹ là bởi nó đã dùng ngòi bút ma lực vẽ nên một hành trình phi thường vòng
quanh thế giới từ New York khuất lấp bao hối hận đau đớn tới ngoại ô Melbourne
nhiều uẩn khúc, từ một đêm Tehran ngột ngạt bức bối tới buổi sáng trong vắt khi
chiếc B-29 Enola Gay đi vào không phận Hiroshima,
từ những cao nguyên Columbia khát máu tới những thuyền nhân Việt Nam đói nước.
Từng thề sẽ không bao giờ viết truyện dân tộc, nhưng cuối cùng Nam Lê
lại dấn thân khám phá những miền đất trên địa cầu với tư cách người trong cuộc,
biểu lộ ở cả sự am hiểu tường tận lẫn mối quan tâm sâu sắc, như thể vẻ đẹp cùng
nỗi đau của mỗi xứ sở đều thấm đẫm lương tâm của người viết. Với Nam Lê, đó vừa
là trách nhiệm, vừa là tham vọng của một cây bút sung sức trên con đường trở thành
nhà văn quốc tế.
***
Đôi
nét về tác giả Nam Lê
Nam Lê
tên thật là Lê Hữu Phúc Nam,
sinh năm 1978 tại Rạch Giá, Kiên Giang. Ba tháng tuổi, Nam Lê theo gia đình vượt biên sang
Úc. Tại đây, anh trở thành luật sư và âm thầm theo đuổi nghề văn. Năm 2008, Con thuyền - tập truyện ngắn đầu tay của
anh - gây tiếng vang lớn khi giành được nhiều giải thưởng từ nhiều quốc gia,
trong đó quan trọng nhất là giải PEN/Malamud
Award. Tác phẩm này được đông đảo độc giả cùng giới
phê bình nhiệt liệt tán thưởng, đưa Nam Lê vào hàng những nhà văn trẻ nổi
tiếng nhất thế giới hiện nay, mở đường cho anh tới Mỹ chuyên tâm sáng tác. Con thuyền đã được xuất bản tại hàng chục
nước.
Các giải thưởng
khác dành cho Nam Lê và tác phẩm:
- Dylan Thomas Prize (2008)
- U.S. National Book Foundation "5 Under 35"
Fiction Selection (2008)
- Sydney Morning Herald Best Young Novelist Award
(2009)
- Australian Book Industry Award for Newcomer of the Year
(2009)
- Australian Prime Minister's Literary Award (2009)
- Melbourne Prize for Literature (Best Writing Award)
(2009)
- PEN/Malamud
Award for Excellence in the Short Story (2010)
- Kathleen
Mitchell Award (2010)
***
Lời
khen tặng dành cho Con thuyền
“Sự khẩn thiết nhiệt thành
và đầy cảm xúc của Nam Lê trao cho ngòi bút nhà văn một sức mạnh bản năng vĩ
đại.”
- New York Times
“Nam
Lê đã viết một tập truyện ngắn về cả thế giới, mỗi nhân vật đều điển hình và
sống động, mỗi mẩu truyện đều phong phú sánh ngang một tiểu thuyết. Rất đáng
đọc.”
- Library
Journal
“Thể loại truyện ngắn bấy
nay vẫn thường đứng trong danh sách đỏ, nhưng tuyển tập cực kỳ ấn tượng của nhà
văn người gốc Việt Nam
này cho thấy rằng nó vẫn sống và sống rất mạnh. Truyện nào cũng đòi hỏi phải
đọc chậm rãi và đọc hơn một lần.”
- Times
“Một tác phẩm đầu tay tinh
tế và mạnh mẽ đáng kinh ngạc. Tự tin tột bậc.”
- Kirkus Reviews
“Trong tuyển tập truyện ngắn
xuất thần này, Nam
Lê đã chưng cất thời gian và trải nghiệm.”
- Union Tribune
“Còn rất trẻ nhưng Nam Lê
đã là một nhà văn điêu luyện và toàn vẹn một cách lạ thường.”
- San
Francisco Chronicle
“Điều kỳ diệu ở những
truyện ngắn này là tác giả, với sự khéo léo và dụng công, đã sử dụng giọng văn
khách quan để đi đến tận cùng sự thật.”
- Sun
“Đặt bên nhau, bảy truyện
ngắn của Nam
Lê bao phủ một không gian địa lý bao la và đong đầy những khoảnh khắc phát lộ
đau xót, được viết dưới ngòi bút hết sức tinh tế.”
- Publishers Weekly *** Trích Con thuyền
Tình yêu và danh dự và thương hại và kiêu hãnh
và cảm thông và hy sinh
Ba tôi đến vào một buổi sáng trời mưa. Tôi đang mơ về một bài thơ, tiếng lọc cọc đều đều của bàn phím máy
chữ tuôn ra các từ. Đó là một bài thơ hay - có thể là bài hay nhất tôi từng
viết. Khi tôi mở mắt, ba đang đứng ngoài cửa phòng ngủ, mỉm cười mơ hồ. Ông mặc
quần đen và một cái áo khoác vải dù ướt nhẹp nhàu nát như vừa lấy từ máy giặt
ra. Đóng khung bởi khuôn cửa phòng ngủ, ông trông nhỏ bé hốc hác hơn là trong
trí nhớ của tôi. Vẫn còn đờ đẫn bởi giấc mơ, tôi nhấc đầu về phía đồng hồ báo
thức.
“Mấy giờ rồi ba?”
“Chào con trai,” ông
nói bằng tiếng Việt. “Ba gõ cửa nãy giờ lâu lắm. Rồi nó tự mở.”
Những cánh đồng thủy
tinh, tôi nghĩ. Rồi tum-ti-ti,
một dactyl, hết dòng, rồi từ lý do và hợp kim ở dòng tiếp theo. Tiếp
nào, tôi nghĩ.
“Đang mưa to lắm,”
ba nói.
Tôi cau mày. Đồng hồ
chỉ 11:44. “Con tưởng chiều ba mới tới.” Cảm giác nói tiếng Việt lần đầu tiên
sau một thời gian dài nghe thật lạ.
“Họ đổi chuyến bay
của ba ở Los Angeles.”
“Sao ba không gọi
điện?”
“Ba có gọi,” ông
điềm tĩnh nói. “Không ai trả lời.”
Tôi trở người sang
một bên giường và mở tung cửa sổ. Tiếng mưa tràn ngập phòng - mưa rơi trên phố,
trên mái nhà, trên cái lán thiếc đựng dụng cụ bên kia bãi đỗ xe nghe như tiếng
pháo rền xa xa. Mọi thứ đều mang mùi lá ẩm ướt.
“Con tắt chuông điện
thoại khi ngủ,” tôi nói.
Ông vẫn cười với
tôi, một cách ngụ ý, như đang đợi một lời tuyên bố.
“Con đang mơ.”
Khi tôi còn nhỏ, ba
thường đánh thức tôi bằng cách cúi xuống bên giường vỗ nhẹ vào má tôi. Tôi ghét
điều ấy, cái ẩm ướt, chua chua của bàn tay ba.
“Thôi dậy nào,” ông
nói, nhấc chiếc túi Adidas và một gói cuộn tròn nhìn như túi ngủ. “Đi một ngày
đàng học một sàng khôn.” Ông có thói quen dùng tục ngữ Việt Nam khi nói. Từ lâu
tôi đã học cách lờ đi điều này.
Tôi tròng cái áo
thun vào người và vươn cổ nhìn ra cửa sổ độc nhất trong phòng. Qua màn mưa, bầu
trời xám xịt và rạn nứt như than chì. Những cánh đồng thủy tinh... Như
một hình thể bằng khói, bài thơ mờ đi rồi tan vào cái hiện thực mới, xa lạ và
lạnh lẽo này: bãi đỗ xe gió lộng và mưa quất, căn phòng tối gần như bị chiếc
giường chiếm trọn, nước chảy nhỏ giọt từ thân hình nhỏ bé của ba xuống sàn gỗ.
Tôi tới gần ông,
chân nổi da gà dưới quần ngủ. Với vẻ thản nhiên thân thiện, ông quan sát tôi
đưa tay ra bắt một tay ông, rồi đỡ mấy cái túi ra khỏi tay kia. “Ba chắc mệt
lắm rồi,” tôi nói.
Ông bay từ Sydney,
Úc. Tổng cộng là ba mươi ba tiếng - chuyển tiếp ở Auckland, Los Angeles và
Denver - trước khi hạ cánh ở Iowa. Đã ba năm rồi tôi chưa gặp ông.
“Ba ngủ trong phòng
con.”
“Sang quá,” ông nói
trong khi dẫn tôi đi quanh căn hộ của chính tôi. “Con có cả đàn piano.” Ông
nhìn tôi cười gần như rầu rĩ. “Ba biết con không bao giờ bỏ hẳn đâu.” Có cái gì
đó lay động phía sau mặt ông và tôi thấy hình ảnh mình xưa kia ngồi trên chiếc
ghế đẩu kê cao, các ngón tay đuổi theo máy đánh nhịp, trước và sau, cố bỏ ngoài
tai tiếng thở dài liên tục của thầy dạy nhạc, cái thước sắt dày nặng của thầy.
Tôi nhận ra tôi đang nắn bóp các đốt ngón tay của mình. Ba vỗ vào cái ghế xếp
trong phòng khách. “Ba sẽ ngủ ở đây.”
“Ba ngủ trong phòng
con, ba.” Tôi thấp thỏm nhìn ông thăm dò không gian xung quanh chúng tôi, lộn
xộn sách, giấy, đĩa, tách, quần áo bẩn - tôi đã định sẽ dọn dẹp trước khi ra
sân bay. “Đằng nào con cũng làm việc trong phòng này, mà con lại làm vào buổi
tối.” Khi ông đi vào bếp, tôi cầm chai Johnnie Walker còn đầy đến ba phần tư để
trên ngăn kệ thứ hai lên giấu xuống dưới bàn viết. Tôi nhìn quanh. Cái máy tính
để bàn nhớp nhúa tàn thuốc. Tôi quăng mấy tờ tạp trí lên che những chỗ bừa bộn
nhất, rồi lật úp một quyển bìa có hình chủ tịch Mao Trạch Đông. Tôi vội vã thu
hết các bao thuốc lá, thuốc ngủ, đế nến thơm và bỏ hết lên trên một cái kệ cao,
đằng sau các tác phẩm của Kafka do Vintage Classic xuất bản.
Tại cửa kéo phòng
bếp, tôi chợt nhớ đến tấm ảnh của Linda bên cạnh máy in. Tôi gọi nó là kiểu ảnh
quyến rũ của em: tóc gió thổi ra sau và mắt nheo, đang cười với cái gì đó ở
ngoài khung ảnh. Một trong các bạn trai cũ của em chụp ảnh đó ở hồ MacBride. Em
trông hạnh phúc. Tôi vớ lấy nó lật úp xuống, phủ giấy nháp lên trên.
Khi đi vào bếp,
trong một khắc tôi nghĩ mình đã để mở cửa thoát hỏa. Tôi có thể nghe thấy tiếng
nước mưa chảy ồ ồ trong lòng máng xuống ống thoát nước. Rồi tôi thấy ba đang
đứng cạnh bồn, tay áo xăn lên, giẻ rửa bát trên tay, rửa đống bát đĩa đóng bựa
dồn lại từ một tháng nay. Mùi bốc lên đáng sợ. “Ba,” tôi cau mày, “ba không cần
làm thế.”
Tay ông, rắn rỏi và
dẻo dai, chuyển động khéo léo trong bồn.
“Ba,” tôi nói, miễn
cưỡng.
“Ba sắp xong rồi.”
Ông nhìn lên mỉm cười. “Con ăn chưa? Con muốn ba nấu cơm trưa cho con không?”
“Thôi,” tôi
nói, tự dưng thấy bực mình. “Ba mệt lắm rồi. Con sẽ đi mua gì đó về.”
Tôi quay lại phòng
ngủ qua phòng khách, đi đến đâu là thu dọn quần áo và rác đến đấy.
“Con không phải lo
cho ba,” ông gọi với theo. “Con cứ làm mọi việc như bình thường thôi.”
Sự thật là ông đã đến vào thời điểm tồi tệ nhất. Tôi đang ở năm cuối Khóa tập
huấn nhà văn trẻ ở Iowa; giờ là cuối tháng Mười một và tôi phải nộp truyện ngắn
cuối kỳ trong ba ngày nữa. Tôi có một chồng bài phải chấm và một đống hồ sơ xin
việc và xin học bổng cần phải viết để nộp. Không lạ là dạo này tôi uống nhiều
vậy.
Chỉ tới tận đêm
trước tôi mới kể với Linda rằng ông sắp đến. Chúng tôi đang ở nhà em. Cơ thể em
trơn mồ hôi thật khó mà ôm. Cơ thể em mang mùi quần áo em. Em lật tôi xuống,
mặt tôi chạm nhẹ tấm ga trải giường, rồi em lấy sống tay chém lưng tôi. Cao
hơn. Ra ngoài một tí nữa. Em khó giữ nhịp điệu đều đặn. “Nhẹ hơn,” tôi bảo
em. Mấy phút sau, tôi bắt đầu cười thành tiếng.
“Sao?”
Mặt tôi ép vào tấm
ga trải giường ẩm.
“Sao?”
“Nhẹ hơn,” tôi nói,
“không phải chậm hơn.”
Em lấy lòng bàn tay
vỗ vào lưng tôi, mạnh - một lần, hai lần. Tôi không thể nín cười. Tôi lật người
lại và nắm lấy cổ tay em. Bị kéo về phía trước, em đỏ bừng, tuyệt đẹp. Tóc em
đổ xòa xuống mặt; bên dưới đường viền hoe xám ấy, tôi chỉ có thể thấy đôi môi
hé mở của em. Em nằm sát xuống người tôi, bờ vai em nhô lên đường cong dài mảnh
từ gáy tới cái lưng thon. “Đừng anh!” môi em nói. Em giật tay ra. Các ngón tay
em dưới thắt lưng tôi, bạo liệt, móng tay em cào đùi tôi, đầu gối, cổ chân. Tôi
duỗi thẳng mũi chân như một nghệ sĩ múa ba lê.
Một lúc sau, tôi nói
với em rằng ba tôi không biết về em. Em không nói gì. “Chỉ vì ba anh và anh
không nói về những chuyện như thế,” tôi giải thích. Em nhìn như một diễn viên,
người trông giống bạn gái của tôi. Nhìn chăm chú vào mặt em làm tôi mệt mỏi.
Gần đây, tôi bắt đầu hay cảm thấy thế hơn khi ở gần em. “Ông chỉ ở đây ba ngày
thôi.” Ở đâu đó không nhìn thấy, một đám sinh viên nam huýt sáo và gào thét.
“Em tưởng anh không
hề nói chuyện với ba anh cơ mà.”
“Ông ấy là ba anh.”
“Ông muốn gì?”
Tôi lăn về phía em,
tì người lên khuỷu tay. Tôi cố nhớ lại xem tôi đã kể với em bao nhiêu về ông.
Chúng tôi đang nằm trên giường, gió thổi xào xạc trong phòng - tôi vẫn nhớ điều
ấy - và cả hai đều say. Giọng của chúng tôi có thể là hai giọng bất kỳ nào
trong bóng tối. “Chỉ ba ngày thôi mà,” tôi nói.
Vẻ mặt em trông lạ
lạ, kín bưng. Em nhìn tôi cân nhắc một lúc lâu. Rồi em trở dậy, mặc quần áo.
“Anh nhớ viết xong truyện ngắn là được,” em nói.
TÔI UỐNG TRƯỚC CẢ KHI ĐẾN ĐÂY. Tôi uống khi còn là sinh viên đại học và cả khi đã là một luật sư
- trong cuộc đời trước của tôi, như người ta thường nói. Gần chỗ tôi làm việc
có một cái quán dưới tầng hầm một khách sạn, tối nào tôi cũng vào đó, ngồi
phịch lên cái ghế cạnh quầy bar và giả vờ không muốn anh phục vụ nói chuyện
phiếm với mình. Anh ta chỉ lớn tuổi hơn tôi một chút, thế nên tôi thấy ghen với
sự thoải mái, với sự tự tin của anh rằng bất cứ tình huống nào cũng chỉ là tạm
thời. Tôi để lại tiền boa ngất ngưởng. Chẳng mấy chốc tôi được quán bar chiêu
đãi tôm bao bột và bánh nhân thịt cừu. Lúc đó ba má tôi đã chia tay, ba chuyển
tới Sydney, má chuyển vào một căn hộ của chính phủ.
Đó là tất cả những
gì tôi làm từ trước đến nay, buôn chữ. Thỉnh thoảng tôi vẫn nghĩ về số từ theo
cách một viên tướng nghĩ về số thương vong. Tôi đã ở Iowa hơn một năm - ngày
trôi qua theo tuần, tháng và rồi hơn một năm bao gồm những ngày - thế mà tôi
chỉ viết được có ba truyện rưỡi. Khoảng mười bảy ngàn từ. Lúc còn làm việc ở
hãng luật, tôi có lẽ đã viết được từng ấy từ trong vài tuần. Và chúng hẳn đã có
ích cho ai đó.
Hạn nộp truyện đến,
thật mệt mỏi, tôi gồng mình viết cho kịp. Để rồi sau đó, trong khoảng thời gian
dài giữa các hạn nộp, tôi quay trở về với màn hình trống trơn và đầu óc dần dần
trở nên mụ mị. Tôi thử đủ thứ - viết tay, viết trên giường, viết trong bồn tắm.
Thời hạn nộp truyện cuối cùng đến gần, tôi nhớ tới một người bạn nói rằng anh
đã vượt qua được sự bế tắc ý tưởng khi chuyển sang dùng máy đánh chữ. Cậu tự do
viết, anh ta nói, khi cậu biết cậu không thể xóa được những gì đã viết. Tôi mua
một cái máy đánh chữ điện hiệu Smith Corona ở một cửa hàng đồ cổ. Khi tôi cắm
điện vào, nó kêu như một cái bể cá nhiệt đới. Để trên bàn, nó nhìn khá đẹp. Tôi
đọc những bài thơ kiểu cách đến ngớ ngẩn thời Victoria và uống rượu Scotch
nguyên chất để tìm cảm hứng. Sao có thể khó đến thế được? Thế giới này lúc nào
chẳng có chuyện xảy ra. Tôi chỉ phải ghi lại thôi. Trên trời, hai bầy chim sẻ
hội lại, rồi chia ra, rồi lại đan lẫn với nhau như những tấm voan trôi bồng
bềnh trên sóng. Đứng xếp hàng trong siêu thị, người phụ nữ da đen cúi về phía
trước chạm môi vào tay cầm xe đẩy hàng, da cô đen mượt như hộp gỗ láng bóng của
đàn dương cầm.
Tuần trước khi ba
tôi đến, một người bạn đã phê phán chủ nghĩa thất bại cố hữu của tôi.
“Bế tắc ý tưởng?”
Miệng anh ta phà ra hơi rượu bourbon dưới ánh đèn đường. “Sao cậu có thể bế tắc
ý tưởng được? Cứ viết một truyện về Việt Nam ấy.”
Chúng tôi vừa trở về
từ một bữa tiệc sau buổi đọc truyện của một tác giả thành công gần đây nhất của
khóa tập huấn, một phụ nữ Trung Quốc đang cố nhập cư vào Mỹ, cô đã viết tuyển
tập truyện ngắn về những nhân vật người Trung Quốc trong quá trình nhập cư vào
Mỹ. Các truyện ngắn đều hay và tinh tế. Có tin đồn rằng cô đã được mời ký một
hợp đồng sáu chữ số để viết hai quyển sách. Theo luật bất thành văn, những điều
như thế này sẽ không được ai đề cập tới. Nhưng tất nhiên, đó là tất cả những gì
mọi người bàn tán.
“Đang nổi đấy,” một
thầy dạy viết văn nói với tôi tại một quán bar. “Văn học dân tộc đang rất nổi.
Và quan trọng nữa.”
Đại diện của một số
nhà văn tới thăm khóa tập huấn cũng có quan điểm tương tự: “Có rất nhiều những
áng văn bóng bẩy quanh đây,” một trong số họ nói. “Các bạn phải tự hỏi bản
thân, cái gì làm mình nổi bật?” Cô ta chỉ định một đồng nghiệp của mình, người
này trả lời chậm rãi như thể ngâm kinh, “Hoàn cảnh xuất thân và kinh
nghiệm sống của các bạn.”
Các bạn khác thì
thẳng thắn hơn: “Tớ ngấy văn học dân tộc lắm rồi,” một cậu nói. “Rặt mô tả thức
ăn nước ngoài.” Hoặc: “Chẳng biết được ngôn ngữ nghèo nàn là do tác giả chủ
định thế hay là do không đủ vốn từ?”
Tôi được nghe kể về
một người bạn của một người bạn là dân Washington, D.C., tốt nghiệp trường
Harvard, đã đứng chụp ảnh bìa cho quyển sách của anh ta trong trang phục
Nigeria truyền thống. Tôi hình dung bản thân mình đội nón đứng giữa ruộng lúa.
Rồi tôi hình dung ba đứng trên cùng ruộng lúa đó, mặc quần áo lao động xơ xác,
trẻ trung và nghiêm nghị.
“Đấy là cách làm độc
giả chán ớn,” bạn tôi nói. Chúng tôi đều say và đang dắt xe đạp bởi lốp của cả
hai đứa đã lần lượt bị thủng trên đường đến dự tiệc.
“Nhân vật lúc nào
cũng nhạt nhẽo, chung chung. Chỉ cần nhà văn Tàu viết về người Tàu, hoặc
nhà văn Peru viết về người Peru, hoặc nhà văn Nga viết về người Nga...”
cậu ta nói, như đang ngâm vè trẻ con, rồi ngừng lại bởi lạc dòng suy nghĩ.
Miệng cậu cong lên thành một điệu cười nghi hoặc. Tôi biết cậu ta đang giận dữ
về một điều gì đó.
“Nhìn kìa,” tôi nói,
chỉ vào một hiên nhà sáng choang trước mặt chúng tôi. “Mấy thằng kia có súng.”
“Chỉ cần có một hình
ảnh thú vị hoặc một ẩn dụ trong mỗi chừng này dòng...” Cậu ta giơ ngón
trỏ và ngón cái phác ra độ nửa trang, xe đạp nghiêng ngả trên vỉa hè. Tôi gật
đầu với cậu ta, rồi gật đầu với một trong mấy gã trai trên hiên, gã gật đầu lại
với tôi. Một chiếc ô tô đèn pha sáng choang đang đậu ở lối vào nhà, và giọng
mấy đứa con gái thét ra từ bên trong, “Đừng bắn! Đừng bắn!”
“Cậu biết không,”
bạn tôi nói át tiếng hét, “Faulkner nói rằng chúng ta nên viết về những chân lý
cổ điển. Tình yêu và danh dự và thương hại và kiêu hãnh và cảm thông và hy
sinh.” Đột ngột có một tiếng cạch ngắn ngủn đằng sau chúng tôi nghe như tiếng
gõ của phím một cái máy chữ khổng lồ, tiếp theo là một vài tiếng hét nghẹn lại.
“Tớ biết tớ là người xấu khi nói điều này,” bạn tôi nói, “nhưng đó là lý do tại
sao tớ không ngại tác phẩm của cậu, Nam ạ. Bởi vì cậu có thể lúc nào cũng chỉ
viết về thuyền nhân Việt Nam. Như trong truyện thứ ba của cậu.”
Cậu ta hẳn phải nghĩ
tôi đang cúi đầu xuống khiêm nhường, nhưng thật ra tôi đang cố xem coi có phải
mình vừa bị bắn vào sau đùi không. Tôi thấy đau nhói. Viên đạn chắc đã bắn
trúng cái gì đó.
“Cậu có thể chuyên
trị khai thác cái đề tài Việt Nam ấy. Nhưng thay vào đó, cậu chọn
viết về ma cà rồng đồng tính và những kẻ sát nhân Columbia, và trẻ mồ côi
Hiroshima - và những họa sĩ New York bị bệnh trĩ.”
Trong một khoảnh
khắc như đang mơ, tôi giật thột mình. Bị xếp hạng như vậy, dưới hơi thở hôi mùi
rượu của cậu ta, các truyện của tôi trở nên thật tầm thường. Chân tôi vẫn nhói
đau. Tôi tưởng tượng sẽ sờ tay xuống phía sau quần bò, đưa tay ra trước mặt
dưới ánh sáng đèn đường và thấy nó đẫm máu. Tôi tưởng tượng mình sẽ quay lại, lừ
lừ leo lên hiên nhà và đá túi bụi hai gã trai trẻ. Tôi sẽ kể câu chuyện của
mình vào một cái mic từ giường bệnh viện. Tôi sẽ viết truyện ngắn của mình
trong một phòng giam của bang. Tôi sẽ giết một trong hai gã đó, có thể là ngộ
sát, và không bao giờ nói về điều đó với bất kỳ ai. Không có lỗ thủng nào trong
quần tôi.
“Tớ có lẽ là một
người xấu,” bạn tôi nói, nghiêng ngả bên cạnh xe đạp của cậu ta vài bước trước
tôi.
NẾU BẠN HỎI SAO TÔI TỚI IOWA, tôi sẽ nói rằng Iowa đẹp theo cách bất cứ nơi nào là đẹp: nếu bạn
coi nơi này là câu trả lời cho một câu hỏi bạn tự hỏi mình mỗi ngày, chỉ bằng
việc sống ở đó.
Buổi chiều ấy, khi
tôi đang chuẩn bị tới nhà Linda, ba gọi tên tôi từ phòng ngủ.
Tôi dừng lại ngoài
cánh cửa đóng kín. Tôi cứ nghĩ ông đang ngủ trưa.
“Con đi đâu đó?”
giọng ông hỏi.
“Đi dạo thôi ạ,” tôi
trả lời.
“Ba đi với con.”
Tôi luôn có ấn tượng
mạnh rằng trên phố Summit tất cả mọi vật dường như đều có kích thước lớn hơn:
các ngôi nhà hai tầng, thảm cỏ trải xuống tới vỉa hè mượt như cỏ sân gôn, các
cây du với cành cao to - loại cành cây tôi luôn tưởng tượng các người cha hay
treo đu dây lên cho các cô con gái mang váy trắng. Những chiếc lá, từng có màu
vàng và đỏ, đang chuyển màu nâu, đỏ cam. Mưa đã tạnh. Tôi không hiểu vì sao
nhưng chúng tôi đang đi ở giữa đường, nhựa đường đen sáng ánh dưới những chiếc
lá bóng dính như tấm lưng một chú cá voi.
Tôi hỏi ông, “Ba
muốn làm gì trong khi ở đây?”
Mặt ông nhợt nhạt,
đóng khuôn trong một nụ cười. “Đừng lo cho ba,” ông nói. “Ba có thể chỉ tập
thiền. Hoặc đọc.”
“Có một quán cà phê
trong trung tâm thành phố,” tôi nói. “Và một quán ăn Nhật.” Nghe thật thê thảm.
Tôi chợt nhận ra tôi không biết chút gì về những việc ông làm trong ngày.
Ông vẫn cười, nhìn
xuống mặt đường đang chuyển động trước chân.
“Con phải viết,” tôi
nói.
“Thì con viết.”
Và tôi không thể đọc
được nụ cười của ông nữa. Ông đã hoàn thiện nó trong khoảng thời gian chúng tôi
xa cách. Đó là một sự sắp đặt của đôi môi, kín đáo, hầu như không thể nhận
thấy, mà hẳn tôi đã nghĩ đó là dấu hiệu của sự lú lẫn tuổi già nếu như không có
vẻ tinh tường của đôi mắt ông.
“Có một bảo tàng
nghệ thuật bên kia bờ sông,” tôi nói.
“À, đưa ba tới đó.”
“Tới bảo tàng ạ?”
“Không,” ông nói,
nhìn ngang sang tôi. “Tới sông.”
Chúng tôi quay lại
đường Burlington và đi xuống đồi tới sông. Ông dừng lại giữa cầu. Nước bên dưới
nhìn lạnh và đen, chạy chậm ở vài đoạn vì không chống nổi nhiệt độ. Sau lưng
chúng tôi, ô tô trên sáu làn đường trượt đi trượt lại trên làn đá rải đường ẩm
ướt, âm thanh nghe như tiếng gió xé.
“Con có nghe tin gì
từ má con không?” Ông đứng thẳng trước thành cầu, đầu ông nhỏ một cách kỳ lạ
bên trên cái áo lông tơ phùng phình tôi cho ông mượn.
“Thỉnh thoảng thôi.”
Ông trở lại dùng
tiếng Việt chuẩn: “Má Nam dạo này sao rồi?”
“Má khỏe,” tôi nói -
quá lớn - cố gắng làm cho ông nghe thấy tôi qua tiếng kêu rên rỉ lách cách của
một cái xe tải đi ngang.
Ông đang gật đầu.
Đằng sau ông, bờ đông của dòng sông hửng lên nhợt nhạt trong ánh sáng buổi
chiều. “Đi nào ba,” tôi nói. Chúng tôi qua cầu và đi tới hiệu Dairy Queen gần
đó. Khi tôi trở ra với hai cốc cà phê trên tay, ba tôi đã xuống tới bờ sông.
Cạnh ông, một thân hình có râu, quấn chặt trong quần áo đang đứng nhìn xuống
một cái thùng phi đựng xăng đang cháy. Tôi chưa bao giờ thấy cảnh như thế ở
Iowa.
“Đây là con trai
tôi,” ba tôi nói, khi tôi đã bò xuống tới bờ sông ướt. “Nhà văn.” Tôi liếc
nhanh sang ông nhưng mặt ông không biểu lộ điều gì. Ông nhấc cái cốc giấy nóng
ra khỏi tay tôi. “Ông có muốn chút cà phê không?’
“Không, cảm ơn ông.”
Người đàn ông đứng im, quan sát hai bàn tay đan vào nhau, lòng bàn tay ửng màu
da cam bên trên mép thùng. Giọng ông ta nhẹ nhàng, quần áo nặng nề với cuộc
sống của chính mình. Tôi ngửi thấy mùi súc vật ở ông, mùi ga, mùi mưa.
“Tôi đã đọc chuyện
của nó,” ba tôi nói tiếp với thứ tiếng Anh lơ lớ, “về thuyền nhân Việt Nam.”
Ông nhìn thẳng vào cặp mắt trống trơn, ướt nước của người đàn ông, rồi nói, như
đang đọc lời thoại chủ chốt, “Chúng tôi là thuyền nhân Việt Nam.”
Chúng tôi đứng đó
thiệt lâu, cả ba người, ngắm nhìn ngọn lửa. Khi tôi ngước mắt lên, trời đã tối.
“Con có tiền trong
người không?” ba tôi hỏi bằng tiếng Việt.
“Chào mừng tới nước
Mỹ,” người đàn ông nói qua chòm râu. Ông ta không ngước lên lúc tôi khép bàn
tay ông lại quanh những đồng tiền ẩm.
BA TÔI BỊ LÔI CUỐN BỞI SỰ YẾU ĐUỐI, dù ông không chịu được bất kỳ sự yếu đuối nào nơi tôi. Ông từng là
một người lính, ông nói, cứ như điều ấy giải thích tất cả. Với tôi, ông là toàn
bộ các tục ngữ và quy định. Không nói chuyện riêng trên điện thoại. Không bạn
gái. Không đọc gì ngoài chương trình học. Khi tôi còn học cấp một, ông bắt tôi
vạch ra thời khóa biểu mười tiếng học mỗi ngày trong kỳ nghỉ hè và trừng phạt
tôi nếu không làm đúng theo đó. Ông biết cách đánh tôi bằng gậy hai mươi lần mà
chỉ để lại một vết lằn thâm tím, như một dấu vết để đời trên mông. Sau đó, khi
ông bôi dầu con hổ lên vết thương, tôi khóc trong nỗi giận dữ với bản thân vì
đã khóc. Một lần, khi má lỡ miệng nói rằng sầu riêng làm tôi ói, ba bắt tôi
phải ăn thứ quả đó trước mặt khách. Đói ăn muối cũng ngon. Tôi học cách
ghét ông mà không để lộ mặt.
Khi mười bốn tuổi,
tôi phát hiện ra ông đã từng ở trong một vụ thảm sát. Sau này, tôi sẽ nhìn thấy
ảnh, các bản tường thuật và sách; nhưng đêm ấy, tại một buổi tiệc ở nhà một
người bạn của gia đình ở ngoại ô Melbourne, đó chỉ là một câu chuyện giữa những
người đàn ông say. Họ ngồi khoanh chân trên những tờ báo trải quanh một tấm vải
bạt lớn màu xanh da trời, uống bí tỉ bia rẻ tiền. Đến thời điểm ấy của đêm thì
chuyện này cứ thế dẫn tới chuyện kia. Mặt đỏ, giọng lên cao, cốc rượu đổ. Chúng
tôi tới trễ, các chú xê dịch để lấy chỗ cho ba.
“Thành! Đù má mầy!
Sao lâu dzậy - sợ hả? Ngồi xuống, ngồi xuống…”
“Đưa nó năm chai.”
Người nói quay sang ba hung dữ. “Dễ với mầy đó, chứ ai ở đây cũng uống tám chín
chai rồi.”
Lần đầu tiên ba cho
tôi ở lại. Tôi ngồi ở mép vòng tròn, quan sát như bị thôi miên. Một rừng giọng
Việt Nam chửi thề, chúc tụng, kêu than về con cái, trêu chọc một chú nói lắp,
“Nó có năm-năm-năm trăm sức ngựa.” Trong suốt lúc đó ba chỉ cười hiền lành, mặt
ông đỏ lên vì bia nhìn như bị cháy nắng. Bát đũa trên tay, ông trông có vẻ trẻ
thơ bên cạnh hai người đàn ông đang buôn chuyện chiến tranh. Tôi quan sát ông
thỉnh thoảng đụng đũa vào mâm thức ăn ê hề ở giữa vòng tròn. Thức ăn là đồ
nhậu. Hàu béo bự chấm muối tiêu chanh. Ốc biển luộc to cỡ quả bóng bi da.
Gỏi gà xé miền Nam trộn dấm ăn với bánh phồng tôm chiên. Ai đó gọi tên ba, ông
đã buông đũa xuống và đang nói trầm trầm:
“Trời đất, xe tăng
tới trước rồi tên lửa và M60. Mầy nhớ tiếng nó không? Điếc tai luôn. Tụi tao
đang trốn trong hầm dưới chùa, má, bốn chị tao và bà Trần bán bánh cùng một số
người nữa. Hổng nghe thấy gì hết trơn. Rùi tiếng súng ngưng, bà Trần nói với má
phải lên phố thôi. Nếu ở lại đây tụi Mỹ nó sẽ nghĩ mình là Việt Cộng. ‘Tao
không đi đâu hết,’ má tao nói. ‘Tụi nó có lựu đạn đó,’ bà Trần nói. Tao vừa sợ
vừa thích. Tao chưa bao giờ nhìn thấy người Mỹ.”
Mất một lúc tôi mới
liên hệ được ba tôi với câu chuyện ông đang kể. Ông bắt được cái nhìn của tôi
và giữ lấy nó trong một khắc, như đang chia sẻ một bí mật với tôi. Ông đang
say.
“Vậy là tụi tao lên
mặt đất. Đâu đâu cũng thấy bụi với khói, chỉ nghe thấy tiếng trực thăng và M16.
Nhà nhà cháy. Rồi qua làn khói tao nhìn thấy một người Mỹ. Tao suýt cười. Hắn
mặc quân phục lôi thôi lắm - quá rộng với hắn - hắn mang một cái vòng cổ bện và
đội mũ bóng chày. Hắn vác khẩu M16 trên vai như vác thuổng. Trời đất, hắn coi
không giống Việt Cộng chút nào, họ mặc sơ mi cài nút tới cằm - lại còn sơ vin
nữa, ngay cả khi bò dưới địa đạo đầy bùn suốt ngày.”
Ông cầm đũa lên xắn tiết
canh - một món đặc sản - thịt băm ngâm trong máu vịt đông. Một số người khác
đang lắng nghe, mỉm cười hiểu biết. Tôi nhìn răng ông nhuốm đỏ khi ông vừa nhai
vừa nói nốt:
“Tụi nó bắt tụi tao
đi đến phía đông của làng. Tụi nó có khoảng mười người, tụi tao thì năm mươi
người. Bà Trần cứ nói, ‘Không phải VC, không phải VC.’ Tụi nó không nghe thấy
bả vì ồn kinh khủng, toàn nghe tiếng súng tự động và máy xả lựu đạn M79, nhớ
mấy thứ đó không? Chỉ có tao nghe thấy bả. Tao thấy mảnh xác thú vật rải khắp
cánh đồng, một con trâu bị mất cả cái be sườn, như bị muỗng xúc đi vậy đó. Rùi
qua làn khói tao thấy ông Long cúi lạy một thằng lính Mỹ, tao muốn kêu ổng lại.
Vợ, con gái và hai đứa cháu gái ổng, Mỹ và Kim, đứng sau ổng sợ hết hồn. Thằng
Mỹ bước lên, lấy báng súng gõ đầu ổng rồi quay súng lại bắn thẳng vào họng ổng.
Không ai nói chi hết. Má ráng che mắt tao nhưng tao vẫn nhìn thấy hắn chuyển cò
súng từ chế độ tự động sang bắn tỉa rùi bắn bà Long. Rùi hắn và một thằng bạn
kéo đứa con gái ổng vào bụi, kéo theo luôn hai đứa con gái đang bám vào chân má
tụi nó.
“Chúng bắt tụi tao
dừng lại ở cái cống gần cầu. Xác người rải trên đường, một đứa nhỏ mới sanh chỉ
còn nửa đầu dưới, một nhà sư áo cà sa nhuốm hồng. Tao thấy hai cái xác người có
hình con át bích khắc vào ngực. Tao không hiểu chi hết. Các chị tao thậm chí
còn không khóc. Mọi người giờ đang gào lên, ‘Không phải VC không phải VC,’
nhưng tụi Mỹ chỉ nhăn mặt, nhổ nước miếng và cười. Một thằng nói gì đó rồi mấy
thằng khác bắt đầu đẩy tụi tao xuống cống. Cái cống ngập nước bùn tới nửa. Má
nhảy xuống rồi nhấc các chị tao xuống từng người một. Tao nhớ tao ngước nhìn
lên thấy trực thăng đầy trời, cái to cái nhỏ, cái cao cái thấp. Chúng bắt tụi
tao quỳ trong nước. Chúng dựng súng lên chạc. Rồi chúng bắt tụi tao đứng lên lần
nữa. Một trong số chúng, một thằng nhỏ với cái mặt bự, vừa nhồi đạn vào ổ vừa
khóc lóc rên rỉ. ‘Không phải VC, không phải VC.’ Chúng không nhìn tụi tao.
Chúng bắt tụi tao quay lưng lại. Chúng bắt tụi tao quỳ lại xuống nước. Rồi
chúng bắt đầu bắn, tao cảm thấy người má giật trên người tao, giật thiệt lâu,
và rồi xung quanh tiếng trực thăng kêu mỗi lúc một lớn hơn như sắp sửa hạ cánh
hết xuống, rồi thì tất cả đều tối tăm ẩm ướt ấm áp và ngọt ngào.”
Cả vòng người lặng
hẳn. Má từ bếp ra, ngồi xổm cạnh ba, vòng tay quàng cổ ba. Đây là một hành vi
phạm luật nhỏ. “Trời đất,” má nói, “các ông hổng còn gì hay hơn để nói sao?”
Sau một khắc yên
lặng, ai đó khịt mũi và nói thiệt to, “Thành, mầy thắng rồi đó. Mày khổ thiệt!”
và rồi tất cả mọi người, kể cả ba cũng phá lên cười. Tôi cũng cười theo mà
không rõ tại sao. Mọi người cụng ly và chúc tụng bằng những từ tôi không hiểu.
Có thể ba không kể
câu chuyện ấy chính xác như vậy. Có thể tôi đang điền vào những quãng trống.
Nhưng khi viết một bài ngợi ca, người ta không phải thề sẽ chỉ nói sự thật, mà
câu chuyện này cũng rất gần với sự thật. Ba tôi lớn lên ở tỉnh Quảng Ngãi, làng
Sơn Mỹ, thôn Tư Cung mà sau này người Mỹ biết đến với cái tên Mỹ Lai. Lúc đó
ông mười bốn tuổi.
KHUYA ĐÊM ĐÓ, tôi cắm điện vào chiếc Smith Corona. Nó ngâm nga đầy hứa hẹn. Tôi
tóm lấy chai Scotch dưới bàn ra rót một cốc đúp. Má nó, tôi nghĩ. Tôi
chỉ có hai ngày rưỡi nữa thôi. Tôi sẽ viết câu chuyện dân tộc về người cha Việt
Nam của mình. Đó là một câu chuyện hay. Một câu chuyện tuyệt bỏ xừ.
Tôi cho giấy trắng
vào máy. Ở dòng đầu, tôi đánh “TRUYỆN
DÂN TỘC” bằng chữ hoa. Tôi đẩy cần chữ và cuộn xuống dòng tiếp theo. Có
tiếng trực thăng trên bầu trời đêm. Các phím gõ vào trang giấy.
HÔM SAU TÔI DẬY MUỘN. Tôi ngồi trong quán cà phê với các trang giấy đánh máy, ngắm nhìn
khách đến và đi. Họ cười, ngồi, nhấm nháp và nói chuyện, nghe họ nói tôi lại
được nhắc nhở một lần nữa rằng mình đang ở trong một thị trấn nhỏ tại một đất
nước xa lạ.
Tôi nghĩ tới ba đang
nằm trong phòng ngủ nhá nhem. Khi tôi đi, cửa phòng đóng kín. Tôi nhớ tới hình
ảnh ông khi tôi vào phòng xem ông ra sao trước khi đi ngủ: thân hình ông bị
chăn nuốt chửng và đầu ông thật nhỏ giữa đống gối. Ông đã già đi trong ba năm
qua. Da ông trong như thủy tinh dưới ánh bình minh xanh da trời. Ông đang ở
đây, bây giờ, với tôi, điều đó làm phần còn lại của đời tôi tưởng như vô thực.
Tôi đọc lại những gì
đã viết: nghĩ tới ông vào tuổi đó, vẫn là một cậu nhỏ, và về con người ông đã
trở thành bây giờ. Tại bàn bên cạnh, cậu thanh niên giơ ra một cái tai nghe
iPod, gọi bạn gái sang ngồi cạnh mình. Cửa mở và một làn gió lạnh ùa vào. Tôi
cố gắng tập trung.
“Chào!” Đó là Linda,
em mặc cái áo khoác đi bộ màu da cam rộng và mang theo mình làn hương tươi mát
khỏe khoắn của tất cả những nơi em vừa tới. Mặt em đang dập đi một nụ cười.
“Anh làm gì ở đây?”
“Đang sửa truyện của
anh.”
“Ba anh cũng ở đây
à?”
“Không.”
Các bạn em đang đợi
ở quầy. Em gật đầu với họ, giơ lên một ngón tay rồi đi vòng qua sau lưng tôi,
đặt hai tay lên vai tôi. “Truyện đây à anh?’ Em cúi qua người tôi, tóc em mơn
man trên mặt tôi, lạnh và mềm như lụa trên hai má tôi. Em cầm lên đọc thầm một
vài trang. “Em không hiểu,” em nói, đặt mấy tờ giấy lại trên bàn, “Anh đang làm
gì vậy?”
“Em nói vậy ý gì?”
“Anh chưa kể những
chuyện này với em bao giờ.”
Tôi nhún vai.
“Ba anh kể những
chuyện này với anh à? Giờ ông nói chuyện lại với anh rồi?”
“Không hẳn thế,” tôi
nói.
“Không hẳn thế?”
Tôi quay lại để nhìn
thẳng vào mặt em. Đôi mắt em không hề phản chiếu ánh sáng.
“Anh biết em nghĩ gì
không?” Em nhìn lại vào mấy trang giấy. “Em nghĩ anh đang biện hộ cho ba anh.”
“Biện hộ?”
“Anh đang lãng mạn
hóa quá khứ của ông,” em hạ giọng nói tiếp, “để giải thích những gì anh nói ông
đã làm với anh.”
“Đây chỉ là một câu
chuyện thôi,” tôi nói. “Anh nói ông làm gì anh?”
“Anh nói ông hành hạ
anh.”
Quá nặng nề, những
từ này và những việc liên quan đến chúng. Tôi nhìn vào gương mặt nghiêm nghị,
xinh đẹp, đôi mắt bẫy ánh sáng của em và chợt cảm thấy chúng đang buộc tội tôi.
“Anh chưa bao giờ nói vậy.”
Em lùi lại nửa bước.
“Nói cho em nghe,” em nói, giọng dịu lại. “Anh chưa bao giờ giới thiệu ông với
người bạn gái cũ nào của anh, đúng không?” Câu hỏi căng trên mặt em.
Tôi không nói gì và
sau một lúc em gật đầu, cắn một khóe môi trên. Tôi biết cử chỉ ấy. Dù biết rằng
tôi phải đứng dậy, kéo thân hình khoác áo màu da cam của em về phía mình, thì
thầm vào tai em, nhưng tất cả những gì tôi có thể làm là nghĩ về ba và những lý
do của ông. Những xác người tơi tả trên người ông. Mười tiếng đồng hồ ông đã
chờ đợi, bùn tràn dần vào phổi, cho tới khi đêm xuống. Tôi cảm thấy mình quay
lại với các thói quen cũ.
Em bước tới và hôn
đỉnh đầu tôi. Đó là một trong các nguyên tắc của em: không rời khỏi một cuộc
tranh cãi mà không biểu lộ một vài dấu hiệu âu yếm. Tôi không nhìn em. Má tôi
thích kể câu chuyện khi gia đình chúng tôi mới tới Úc, chúng tôi sống trong một
nhà trọ trên một phố ở một quận ngoại ô xa mà người trên phố - bất cứ khi nào
họ gặp gỡ hay chia tay - đều ôm hôn nhau nồng nhiệt. Ba tôi - vừa bối rối, vừa
bị mê hoặc bởi điều đó - đã đặt tên phố là “phố của những người tình.”
Tôi quay về phía cửa
sổ: trời đã tối, đêm lắng xuống dày đặc và sâu thẳm. Một người đàn ông và một
người phụ nữ ngồi đối diện qua một cái bàn cao. Người phụ nữ cúi về phía trước,
mỉm cười, đôi nhũ hoa tựa vào mặt bàn gỗ, khuỷu tay ngả về phía trước, bàn tay
cô chỉ cách ngực áo của người đàn ông vài phân. Răng cô sáng lấp lánh trong
suốt cuộc chuyện trò. Phía sau họ, một người mẹ ngồi với đứa con trai. “Mẹ
không chơi đâu,” bà lẩm bẩm, lật nhanh các trang tạp chí.
“Chữ L,” cậu bé nói.
“Mẹ đã bảo không
chơi mà.”
ĐÂY LÀ ĐIỀU TÔI TIN: Chúng ta tha thứ cho mọi hy sinh của bố mẹ miễn là sự hy sinh đó
không mang tên chúng ta. Với ba tôi, không còn một tên nào khác - chỉ có tên
tôi, và ba đặt tên tôi theo tên quê hương ông đã từ bỏ. Sự hy sinh của ông là
trọn vẹn và thúc đẩy ông làm mọi điều ông đã làm. Tôi không xứng đáng với tất
cả những điều đó.
Mười sáu tuổi, tôi
bỏ nhà đi. Có một cô gái, thuốc kích thích, và khả năng mất mát lớn hơn tôi
tưởng tượng. Cô là hiện thân của tất cả những gì ba tôi ngăn cấm và hiển nhiên
là xứng đáng. Tất nhiên ba đã đúng về cô: cô dạy tôi nỗi đau - nhưng cả sự hứa
hẹn. Chúng tôi như hai con vật trong bóng tối, tấn công lẫn nhau và kể từ hồi
đó tôi chưa bao giờ có lại được cảm giác ấy - cảm giác hiến dâng. Khi ba phát
hiện má đưa tiền cho tôi sống, ông bắt bà lựa chọn giữa ông và tôi. Bà chuyển
vào sống trong một xưởng may của một người bạn của gia đình, học cách sử dụng
máy vắt sổ và tiếp tục gửi tiền cho tôi.
“Tất nhiên má muốn
sống với ba,” má nói với tôi khi tôi tới thăm bà, hàng tháng sau đó. “Nhưng má
muốn con về nhà nữa.”
“Ba không muốn vậy.”
“Con là con trai
ổng,” má nói đơn giản. “Ổng muốn con ở bên.”
Tôi giặt ủi đồng
phục, nhờ một người bạn cắt tóc giùm và đợi đến giờ tan trường mới bắt tàu về
nhà. Ba tôi lui vào trong khi tôi tới. Khi trở lại phòng khách, ông đã thay áo
và trên tóc ông có nước. Tôi cảm thấy nôn nao và bừng tỉnh - tưởng như tất cả
mấy tháng trước là một giấc ngủ và giờ đây mặt tôi lại ướt nước, lạnh buốt
xương. Căn phòng mang hương bạc hà. Ông hỏi tôi có mạnh không và tôi nói tôi
mạnh, rồi ông hỏi cô bạn gái tôi có mạnh không và lúc đó tôi nhận ra ông đang
nói chuyện với tôi không phải như một người cha nói chuyện với đứa con trai duy
nhất mà như ông đang nói với một người bạn, với bất kỳ ai, điều đó làm tôi tan
nát. Tôi đã biết cảm giác máu mình tụt xuống là như thế nào nhưng nó không là
gì so với bây giờ. Tôi buộc mình phải nhìn ông và tôi xin ông đưa má về nhà.
“Còn con?”
“Con sẽ không nhận
tiền của má nữa.”
“Con về nhà đi,”
cuối cùng ông nói. Giọng ông như bị xiết lại, nửa phần nghẹn ngào.
Ngay hồi đó, các cảm
xúc của tôi đã hoạt động như một hệ thống đòn bẩy và ròng rọc; chỉ cần nhìn ông
là nó đi vào chuyển động vô phương đảo ngược. “Không,” tôi nói. Câu trả lời bắn
ra từ tôi.
“Con về nhà rồi má
sẽ về nhà, và ba hứa với con sẽ không bao giờ nhắc đến chuyện này nữa.” Ông
nhìn ra chỗ khác, cười nặng nề và lấy khăn tay ra. Trán ông ẩm mồ hôi. Ông đã
bị chôn sống trong cái ghì siết nóng ẩm của gia đình mình, bị nghiền nát bởi
cuộc sống của những người thân. Tôi muốn biết ông đã leo ra khỏi cái hố đó như
thế nào. Tôi muốn biết liệu tôi và ông có bao giờ tìm được sự tương hợp nữa hay
không. Tôi muốn biết tất cả những điều đó nhưng một mô men nội tại đang chuyển
dịch tôi ngày một xa ông hơn.
“Thế giới tàn nhẫn
lắm,” ông nói. Trong một khắc tôi không rõ có phải ông đang dùng tục ngữ hay
không. Ông nhìn tôi, gương mặt ông như tấm mặt nạ phản chiếu ánh sáng yếu ớt.
“Con nói dạ đi rồi chúng ta có thể quên mọi thứ. Vậy thôi. Chỉ cần nói dạ.”
Nhưng tôi đã không
nói. Không nói vào ngày hôm đó, ngày tiếp theo hay bất cứ ngày nào trong gần
một năm sau. Tuy vậy khi tôi cuối cùng nói ra từ ấy, sau khi đã cai nghiện và
cải tạo cách ly, ông đã giữ lời và không bao giờ nói về vấn đề đó nữa. Thực tế,
sau khi tôi trở về nhà, ông không bao giờ nói nhiều về bất kỳ điều gì nữa và
dưới sự im lặng mới học được này, cả ba chúng tôi - ba, má và tôi, cùng chung
sống lần nữa dưới một mái nhà - đã bị dẫn dụ một cách khôn cưỡng theo cuộc đời
riêng biệt của mỗi người.
CĂN HỘ có mùi tỏi xào và dầu mè khi tôi về. Ba đang ngồi trên sàn phòng
khách, trên một cái đệm đặc biệt ông mang theo. Nó làm bằng xốp trắng. Ba bảo
tôi nó có lợi cho lưng của ông. “Có đồ xào trong bếp đó con.”
“Cảm ơn ba.”
“Hồi sáng ba đọc
truyện của con,” ông nói “khi con còn đang ngủ.” Có cái gì đó cuộn lên trong dạ
dày tôi. Tôi quên mất không giấu bản thảo đi. “Có nhiều lỗi trong đó.”
“Ba đọc rồi à?”
“Truyện sau cùng của
con cũng có lỗi nữa.”
Truyện sau cùng của
tôi. Tôi nhớ má gọi điện cho tôi hồi đó: ba tôi, thất nghiệp và sống một mình ở
Sydney, đã bắt đầu gửi email dài cho bạn bè xưa của ông - bạn từ ba mươi, bốn
mươi năm về trước. Tôi nên nói chuyện với ông nhiều hơn, má nói vậy. Tôi đã gửi
cho ông câu chuyện tôi viết về người tị nạn. Ông không phản hồi gì. Giờ đây,
khi bước ra khỏi bếp với một đĩa đồ xào đầy có ngọn, tôi cố nhớ lại những phần
mình đã không nghiên cứu kỹ trước khi viết. Có thể là cảnh ở Rạch Giá - trước
khi họ lên thuyền. Tôi xúc đầy một muỗng tàu hũ tẩm, hạt điều và đậu răng ngựa.
Ông đã đi chợ. “Chỉ là truyện thôi ba,” tôi nói, nhai bình thản. “Truyện
tưởng tượng.”
Ông ngừng lại một
chút, rồi nói, “Được thôi con.”
Chế độ ăn của tôi từ
lâu rồi chỉ có khoai tây chiên, mì và pizza nên tôi đã quên mất mình nhớ thức
ăn nhà nấu đến thế nào. Lúc tôi ăn, ông làm vài động tác vươn người trên cái
đệm trắng.
“Lưng ba sao rồi
ba?”
“Ba có chụp CT rồi,”
ông nói. “‘Nước tủy sống rò ra giữa các đốt sống lưng ba.” Ông cười nụ cười của
người đã chịu đựng lâu ngày, chân phải gấp qua hông trái. “Ba mang phim cho con
coi đó.”
“Có đau không ba?”
“Đau.” Ông cười
ngắn, làm như cả chuyện này là một chuyện đùa. “Nhưng ba làm chi được? Chỉ có
thể chấp nhận thôi.”
“Họ không mổ được
sao?”
Tôi cảm thấy mình
không quan tâm nữa. Tôi là một đứa con tồi. Ba ly thân má khi tôi bắt đầu vào
trường luật và từ lúc đó ông nhắc đến cái lưng đau của mình - luôn luôn diễn tả
bằng giáo lý đạo Phật về chịu đựng và chấp nhận - nhiều đến nỗi phần lạnh lùng
chai đá trong tôi ngờ rằng ông đang phóng đại, để nài xin và rồi khẽ khiển
trách sự quan tâm của tôi. Ông từng làm vậy. Ông đã bắt tôi phải học karate tới
khi tôi mười sáu tuổi; và sau đó, trong một trong các cuộc tranh cãi cuối cùng
của chúng tôi, ông lao tới tôi và tôi thấy mình thủ thế tấn công. Ông đã cười vào
sự khiếp đảm của tôi. “Thế là đúng,” ông đã nói. Hai cha con tôi bị cầm tù
trong mọi cảm giác mang tội lỗi đầy phức tạp. Chúng tôi đã mất tất cả thời gian
mình có mới nhận ra rằng khi phải đương đầu với vấn đề gì, chúng tôi cũng luôn
đương đầu trên tinh thần vì nhau.
“Con muốn nói chuyện
với ba,” tôi nói.
“Khi già thì người
nó rã ra,” ông nói.
“Không, ý con là về
truyện ngắn con viết.”
“Nói chuyện?”
“Dạ.”
“Về cái chi?” Ông có
vẻ thích thú.
“Về các lỗi của
con,” tôi nói.
NẾU BẠN HỎI TÔI TẠI SAO TÔI TỚI IOWA, tôi sẽ nói rằng tôi đã từng là luật sư và tôi đã từng không là
luật sư. Mỗi hai tư giờ, tôi dậy vào giờ mù sương nhất của buổi sáng và đi -
bằng xe buýt, tàu điện, thang máy, không nói một lời, mặc quần áo là cứng đến
trầy da, tay cầm một ly trắng đựng cà phê sữa - tới phòng làm việc không cửa sổ
của tôi ở tòa nhà cao nhất, phủ nhiều kính nhất Melbourne. Thời gian bị chia
thành từng đơn vị 6 phút_(1), bạn bè được xếp vào giờ ăn trưa
dài tám đơn vị. Tôi căm ghét việc mình đang làm và tôi căm ghét rằng tôi giỏi
việc mình đang làm. Chủ yếu, tôi ghét cái nhận thức rằng ba chỉ tự hào về tôi
bởi nghề nghiệp của tôi. Khi tôi nói với ông tôi sẽ bỏ việc và chuyển tới Iowa
để làm nhà văn, ông nói, “Trâu buộc ghét trâu ăn.” Nhưng lúc đó ông không kiểm
soát được cuộc đời tôi nữa. Tôi đã hai mươi lăm tuổi.
Quan trọng không
phải ở chỗ bạn viết điều không ai có thể viết được mà là ở chỗ viết điều chỉ
bạn có thể viết được. Gần đây tôi tìm
thấy mẩu văn này trong một quyển tập cũ. Người viết điều này hẳn không thể biết
được thời gian có thể phản ta như thế nào, một giọng nói rỗng tuếch đi và những
từ một thời được yêu mến có thể héo tàn trên trang giấy ra sao.
“Tại sao con muốn
viết truyện này?” ba hỏi tôi.
“Đó là một câu
chuyện hay.”
“Nhưng có bao nhiêu
thứ khác con có thể viết.”
“Cái này quan trọng
ba ạ. Quan trọng là sao cho mọi người biết.”
“Con muốn sự thương
hại của họ.”
Tôi không biết đây
có phải là một câu hỏi không. Tôi tự ái. “Con muốn họ nhớ.”
Ông yên lặng một lúc
lâu. Rồi ông nói, “Chỉ có con sẽ nhớ, ba sẽ nhớ thôi. Họ sẽ đọc, vỗ tay rồi
quên đi.” Lần này ông không cười. “Đôi khi quên đi là tốt hơn, không phải sao?”
“Con sẽ vẫn viết,”
tôi nói. Mọi thứ trở lại với tôi - cảm giác tôi có bên bàn máy chữ đêm trước.
Một ý tưởng nhảy lên trong óc tôi. “Nếu con viết một câu chuyện thật,” tôi nói
với ba, “con sẽ có cơ hội bán nó tốt hơn.”
Ông nhìn tôi một
hồi, tìm kiếm, như thể lần đầu tiên nhìn thấy cái gì đó trên mặt tôi. Cuối
cùng, ông nói với giọng kiềm chế, “Ba sẽ kể con nghe.” Trong một khắc ông chìm
trong suy nghĩ. “Nhưng tin ba đi, đó không phải là thứ con có thể viết được
đâu.”
“Con sẽ vẫn viết,”
tôi nhắc lại.
Rồi ông làm một điều
tôi không ngờ. Gương mặt ông dãn ra, ông phá lên cười - không hề mang vẻ thương
thân hay ý tứ, - cười hết cả hơi. Tôi vô cùng kinh ngạc. Tôi không nhớ được lần
cuối cùng tôi nghe ông cười như vậy là khi nào. Tôi cũng cười theo mà không rõ
tại sao. Cổ họng ông ngâm nga tiếng Việt. “Được... được... được,” mắt ông cười
sáng ánh. “Được, được, mai.”
“Nhưng…”
“Ba cần nghĩ đã
chớ,” ông lắc đầu rồi lẩm bẩm. “Con tui là nhà văn. Có thực mới vực được đạo.”
“Một người làm quan
cả họ được nhờ,” tôi đối lại. Ông nhìn tôi ngạc nhiên rồi lại phá lên cười, gật
đầu lia lịa. Tôi đã để dành câu đó từ nhiều năm nay.
BUỔI CHIỀU. Hai ba con tôi ngồi đối diện nhau qua bàn ăn: tôi hỏi và ghi lại
câu trả lời trên tập giấy vàng dùng để ghi chép; ông nói. Ông nói về tuổi thơ
và gia đình ông. Ông nói về Mỹ Lai. Tới đó ông dừng lại.
“Con không mời ba
à?”
“Mời gì ạ?”
“Trời đất, con nghĩ
con có thể giấu được rượu chất lượng tốt sao?”
Ánh sáng buổi chiều
chiếu qua cửa sổ và giữ khung người ông trong một hình vuông ánh bạc, rồi từ từ
tụt xuống chân ông, mờ dần trong khi ông nói. Tôi rót đầy rượu vào hai ly đã
cạn. Ông nói át tiếng giao thông giờ cao điểm trên đường, nói khi tiếng ồn ấy
đã ngớt đi; ông nói mãi tới tận chiều muộn. Khi điện thoại kêu lần thứ hai tôi
giật dây cắm ra khỏi ổ. Ông kể với tôi ông đã bị Việt Nam Cộng Hòa bắt đi lính
như thế nào.
“Sau những gì bọn Mỹ
đã làm ư? Sao ba có thể chiến đấu cho chúng được?”
“Trong ba không còn
gì ngoài sự căm thù,” ông nói, “nhưng ba đã ớn tất cả mọi người lắm rồi.” Ông
dừng lại sau từ “căm thù” như một người cha lần đầu tiên nói từ đó trước đứa
con thơ dại, thử kiến thức của đứa trẻ, kiểm tra xem cái gì là nội hàm của từ
còn cái gì là nghiệm được về sau.
Ông nói với tôi về
cuộc chiến. Ông kể về chuyện gặp gỡ má. Đám cưới. Rồi năm 1975. Ông kể với tôi
về thời gian ông ở trại cải tạo, sự thiếu đói. Công việc lao động hàng ngày phá
hủy lưng của ông. Ông kể về chuồng cọp và hộp vận chuyển, những cái tên khác
nhau của các loại hình tra tấn khác nhau: hông da, máy bay, ô tô. “Chúng trói
người bằng cách buộc ngón tay cái họ lại, một cánh tay vòng qua vai, tay kia bị
kéo về trước người. Hoặc chúng kéo dạng hai chân ra và trói ngón tay trỏ vào
ngón chân cái…”
Ông biểu diễn cho
tôi xem. Một ông già da bọc xương trong động tác yoga, trông ông có vẻ hơi lố
bịch. Khi đang biểu diễn thế hông da ông lưỡng lự, rồi, một nụ cười nở trên
mặt, ông yêu cầu tôi giúp ông ngồi lên tấm đệm xốp. Tôi sốt ruột đợi ông trải
tấm đệm ra. Ông kêu tôi giúp một lần nữa. Đó, đẩy chỗ đó. Mạnh hơn tí. Rồi
ông tiếp tục nói, đôi khi với trọng trầm trầm, đôi khi cười toe toét. Những lúc
khác ông chớp mắt - giận dữ, bối rối. Mặc những lời tuyên bố đầy tinh thần nhà
Phật của ông, tôi tưởng tượng ra hình ảnh ông bị cầm tù trong giận dữ, hằng
ngày buộc phải quay ngược lại chứng kiến những hành động man rợ của quá khứ,
không thể kháng cự được. Nhưng đó chỉ là tưởng tượng của tôi. Tôi không có gì
để chứng minh rằng giờ đây ông chưa rũ bỏ được hết những điều đó.
Ông kể với tôi, ông
đã tổ chức cho gia đình di tản khỏi Việt Nam sau ba năm bị giam cầm. Đó là năm
1979. Lúc đó ông hai mươi lăm tuổi, và đã là cha của tôi.
Khi cuối cùng ông
thiếp đi, gương mặt ấm lên vì rượu Scotch, tôi quan sát ông từ ngưỡng cửa phòng
ngủ. Tôi đã say. Trong một lúc, nhìn ông, tôi lại cảm thấy tôi đang mơ. Trong
một khắc tôi trở thành ba tôi, ngắm đứa con trai đang ngủ, nhớ lại những gì mà
- vì con - ông đã không ngừng cố gắng để quên đi. Một quá khứ rộng lớn hơn sự
oán than, hiểm nguy hơn ký ức. Tôi lắc người để làm mình tỉnh lại và đi tới
bàn. Tôi đọc hết một mạch, cẩn thận, các ghi chép dài bốn mươi lăm trang. Tôi
đọc lại bản thảo câu chuyện hai đêm trước. Rồi tôi để cả hai xuống một bên và
bắt đầu đánh máy, không xem lại lần nào nữa.
Bình minh đến chậm
rãi tới mức tôi không nhận thấy - cho tới khi xe rác kêu bíp bíp - là không khí
bên ngoài có màu xanh da trời ánh kim và mặt đất toàn màu trắng. Mái của cái
lán thiếc cũng trắng. Đợt tuyết đầu tiên đã rơi.
ÔNG KHÔNG CÓ TRONG CĂN HỘ khi tôi thức giấc. Một mảnh giấy để trên bàn nước: Ba đi dạo. Ba
mang theo truyện của con để đọc. Tôi ngồi ở ngoài trên bậc thang thoát hỏa
với một cốc Scotch, đợi ông. Bất chấp cái lạnh, tôi uống whisky, để cho nó chảy
như một dòng chảy ấm qua khắp người. Tôi mới chỉ ngủ có ba tiếng và quá mệt mỏi
không thể cảm nhận bất cứ điều gì ngoài sự thanh thản. Băng đóng trên cây phong
lữ đỏ ở đầu cầu thang lên tòa nhà bên cạnh. Tôi dò nhìn qua cửa sổ hàng xóm mà
không nhìn thấy gì cả.
Ông sẽ đọc câu
chuyện ấy với vốn tiếng Anh học được trong sách của mình và sẽ nhìn nhận bản
thân theo một cách mới. Ông sẽ nhận ra tôi. Ông sẽ thấy kinh nghiệm của ông mới
đầy sức mạnh làm sao, thống khổ của ông có giá trị thế nào - tôi đã làm cho
thống khổ ấy cất tiếng nói nhiều hơn chính bản thân nó như thế nào. Ông sẽ hài
lòng với tôi.
Tôi uống hết cốc
Scotch. Đã là mười một giờ rưỡi, bầu trời tối, điểm những mảng xám. Tôi phải
nộp truyện vào mười hai giờ. Tôi đeo găng tay, cẩn thận bước xuống thang thoát
hỏa và gỡ xe đạp khỏi giá. Ông sẽ hài lòng với tôi. Tôi đạp xe quanh khu nhà,
đi lên đi xuống phố Summit, cố nhìn ra cái áo bông phồng của mình. Các phố vắng
tanh. Tuyết hầu như đã tan hết nhưng có một lớp băng mỏng phủ trên mặt đường nên
tôi đạp chầm chậm. Mắt cay và hơi thở mù khói trước miệng, tôi đi xuống trung
tâm thành phố, qua công viên College Green, cỏ đóng băng cứng đến mức vỡ ra
dưới bánh xe. Ánh đèn sáng yếu ớt từ sau cửa sổ kín rèm của các ngôi nhà. Trên
phố Washington, một làn gió đột ngột quất các cành du, giật lá khỏi cành, thổi
lá bay lơ lửng xuống đất dày đặc, chậm rãi và câm lặng.
Tôi đi qua nửa cầu
thì nhìn thấy ông. Tôi dừng lại. Ông đang ở bên bờ sông. Tôi không nhìn thấy rõ
mặt nhưng đó là ông, thấp và đầu bé trong cái áo khoác phùng phình của tôi. Ông
đứng với người đàn ông lang thang, cả hai nhìn chăm chăm vào cái thùng phi rực
lửa. Khói bốc lên dày, kết tủa. Trong một giây tôi ngừng thở. Tôi biết với sự
chắc chắn đến nôn nao rằng ông đã làm gì. Đám tro tàn, gửi mình cho làn gió,
bay từ tôi xuống sông. Ông vỗ vỗ vai người đàn ông, thọc tay vào túi rồi nhét
một ít tiền vào đôi bàn tay to đeo găng tay mới ấy. Ông bắt đầu đi ngược lên bờ
sông và nhìn thấy tôi. Trong tôi tràn ngập nỗi khao khát đến mức tôi nghĩ tim
mình sẽ lụt. Tay ông trống trơn.
Nếu như tôi biết
điều sau này tôi sẽ biết, hẳn tôi đã không nói ra những điều tôi đã nói. Hẳn
tôi đã không nói với ông rằng ông không hiểu - vì rõ ràng, ông có hiểu. Hẳn tôi
đã không nói rằng điều ông làm là không thể tha thứ được. Rằng tôi ước gì ông
chưa bao giờ đến hay rằng ông không phải là cha tôi. Nhưng tôi đã không biết,
và trong lúc tôi đứng chờ, cảm nhận gió đổi chiều, tất cả những gì tôi thấy là
một người đàn ông đang đi đến chỗ tôi trong cái áo khoác rộng đến nực cười, xoa
hai bàn tay đầy bồ hóng vào nhau, bước qua màn khói đầy đốm và cuộn tàn lửa,
người đã hủy hoại bản thân mình, một lần nữa, nhân danh tôi. Dòng sông ở phía
sau ông. Gió thổi gắt. Trong đám đốm sáng bay lơ lửng chậm rãi, tôi quay đi
nhìn xuống sông. Sắp sửa đóng băng, dòng sông sáng lên yếu ớt ở những mảng
phồng rộp lớn. Làn nước ở những chỗ vẫn còn chảy đen và lăn tăn. Và tôi chợt
nhận ra rằng bề mặt một dòng sông phải mất nhiều giờ, đôi khi nhiều ngày để
đóng băng hoàn toàn - giữ dưới da nó một thế giới pha lê hoàn hảo - và thế giới
đó có thể vỡ tan bởi một viên đá nhỏ rơi xuống như một đơn âm. |