Nhà văn ẩn dật từng đem lại
cho những dằn vặt về cảm xúc và tâm lý của các thiếu niên trên toàn thế giới đã
ra đi.
Bắt trẻ đồng xanh là
tiểu thuyết duy nhất của Salinger được xuất bản trong thời gian ông còn sống,
nhưng đó là một kiệt tác được thừa nhận đồng thời xác định vị trí của tác giả
là một trong những nhà văn có ảnh hưởng nhất thế kỷ hai mươi.
Chân dung J.D. Salinger ở bảo tàng DC
Tiểu thuyết xoau quanh một
thiếu niên 16 tuổi bất hạnh tên là Holden Caulfield. Bị đuổi học, Caulfield kể
lại câu chuyện của mình sau một lần suy sụp thần kinh.
The Catcher in the Rye là tác phẩm đầu tiên đã khắc họa tình cảnh tha hóa
của giới trẻ sau chiến tranh: tiếng lóng, nỗi phẫn nộ trước sự đạo đức giả của
thế giới người lớn và giận dữ khi sự ngây thơ bị mất đi một cách không thể
tránh khỏi trong quá trình trưởng thành.
Cho dù cuốn sách được xuất
bản từ đầu những năm 1950, chủ đề của nó đã báo hiệu sự nổi loạn của giới trẻ
trong thập niên 1960. Cuốn tiểu thuyết hơn hai trăm trang này đã được in tới 60
triệu bản trên toàn thế giới.
Jerome David Salinger, con
của một người cha Do Thái và một người mẹ Ireland vào ngày 1 tháng 1 năm 1919,
đã lớn lên ở thành phố New York City. Ông từng học trường nội trú, sau đó là
hai trường đại học New York và Columbia.
Khi còn chưa trở thành nhà
văn, Salinger đã từng chiến đấu trong Thế chiến II. Con gái ông, Margaret
Salinger, từng viết trong cuốn hồi ký Dream Catcher của mình về thời thơ
ấu đau đớn của cô và mối quan hệ khó khăn với người cha nổi tiếng của mình.
Cũng trong cuốn sách đó, cô đặt ra giả thuyết rằng cha cô đã bị chấn thương tâm
lý do chiến tranh.
Khi Margaret ra đời năm
1956, Salinger đã bắt đầu rút lui khỏi cơn bão của sự chú ý, khen ngợi, chỉ
trích và kỳ vọng mà Bắt trẻ đồng xanh đã
tạo ra
Đầu thập niên 1960, ông đã
xuất bản ba tập truyện: Nine Stories, Franny and Zooey và Raise
High the Roof Beam, Carpenters and Seymour: An Introduction.
Ông ngừng xuất bản tác phẩm
vào năm 1965.
Salinger sống ở vùng nông
thôn New Hampshire trong nhiều thập kỷ và không bao giờ cho phép phỏng vấn.
Nhưng người ta biết ông có đọc tậo chí The New York Times Sunday Magazine.
Năm 1973, nhà văn, lúc này
đã 54 tuổi đã viết thư cho Joyce Maynard, khi ấy mới 18,
sau khi cô đăng một câu chuyện trang bìa trên tạp chí. Bài báo đăng kèm một bức
ảnh trông như trẻ lang thang của Maynard. Bài viết của cô đã “khơi gợi yêu
thương” trong ông, ông viết.
Salinger mời cô sinh viên
năm nhất trường Yale đó đến thăm. Maynard đã đến, bỏ học và sống một năm cùng Salinger.
Nhưng chuyện tình đó đã kết thúc tồi tệ. Hai mươi lăm năm sau Maynard viết về
nó trong cuốn hồi ký, At Home In the World.
Salinger cũng thành công
khi kiện nhà phê bình Ian Hamilton khi ông này viết về tiểu sử của ông. Cuốn
sách của Hamilton dự định sẽ xuất bản vào năm 1986, nhưng đã phải viết lại rất
nhiều phần vì tòa án đã phán quyết rằng nó không được phép dử dụng các trích
dẫn từ những lá thư do Salinger viết
Giữa cuốn hồi ký của con
gái, cuốn sách của Maynard và vụ kiện của chính ông nhằm vào một nhà phê bình
đáng kính, hình ảnh của Salinger, với tư cách một điển hình của tính khắc
nghiệt của văn chương và tri thức, đã phải hứng chịu vài đòn khá nặng.
Tuy vậy, tác phẩm của Salinger
vẫn luôn xuất sắc, được ngưỡng mộ, và, quan trọng nhất, vẫn tiếp tục nói thay
lời những thiếu niên u sầu trên toàn thế giới.
Phong Linh dịch